Thursday, April 14, 2011

BÀN VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ CÔNG KHAI (Lê Trần Luật)

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 



Lê Trần Luật
Thứ Năm, 14/04/2011


XÉT XỬ CÔNG KHAI: một trong những nguyên tắc dân chủ của hoạt động xét xử, được quy định tại điều 131 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 "Toà án nhân dân xét xử công khai trừ trường hợp do luật định".

Điều 18 của Bộ luật tố tụng hình sự là một trong những đảm bảo cho hoạt động xét xử được công bằng, nghiêm minh. Tính công khai trong công tác xét xử có nghĩa là việc xét xử các vụ án hình sự được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền được tham dự và theo dõi diễn biến của phiên toà xét xử.

Nguyên tắc XXCK cho phép có thể tường thuật, thông báo trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình... về hoạt động xét xử của toà án.

Trong trường hợp đặc biệt, cần bảo đảm bí mật nhà nước hoặc gìn giữ đạo đức xã hội thì toà án xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.

Nguyên tắc XXCK là điều kiện cho phép nhân dân giám sát hoạt động của toà án, cơ quan điều tra, đề cao trách nhiệm của những người tham gia tố tụng, đồng thời góp phần giáo dục công dân tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.

-------------------------------

Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của xã hội dân chủ. Trong xã hội dân chủ công khai được xem như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Trong hoạt động tư pháp tư tưởng này cũng được ghi nhận một cách rất cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng.

Hiến pháp 1946, Điều 67: "Các phiên tòa phải công khai, trừ trường hợp đặc biệt".
Hiến pháp 1959, Điều 101: "Việc xét xử tại các tòa án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp Luật định".
Hiến pháp 1980, Điều 133: "Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định".
Hiến pháp 1992, Điều 131: "Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định".
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (năm 2003) đã cụ thể hóa tư tưởng này tại Điều 18: Xét xử công khai "Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này qui định.
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai."

Theo tiến sĩ Luật học Võ Khánh Vinh, "Việc xét xử công khai, một mặt bảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được các hoạt động của Tòa án" (Trang 42 - Bình luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự - Nhà xuất bản Công An Nhân Dân).

Như vậy, có thể thấy việc xét xử công khai nhằm bảo đảm cơ chế kiểm tra và giám sát của dân đối với hoạt động xét xử. Sự kiểm tra giám sát của dân đối với hoạt động nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng là đòi hỏi cấp bách của một xã hội dân chủ. Mọi hoạt động của Nhà nước không được công khai, triệt tiêu sự giám sát của dân đều có khả năng dẫn đến chuyên quyền, quan liêu và tệ hơn nữa là ở nơi đó "Quốc nạn tham nhũng" được hoành hành.

Mặt khác, xét xử công khai là một trong bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn, nâng cao trách nhiệm và lương tâm của thẩm phán.

Hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn thì bản án phán quyết của Tòa mới được chính xác và được mọi người tôn trọng.

Một bản án "đúng người, đúng tội" làm cho những người tham dự phiên Tòa và công luận "Tâm phục, khẩu phục" thì có nghĩa rằng "Công lý đã được thực thi", "Công lý được thực thi" thì tinh thần thượng tôn pháp luật được nâng cao.

Để nguyên tắc công khai được thực thi, điều Luật đã qui định "Xét xử công khai và mọi người (người trên 16 tuổi) có quyền tham dự". Theo chúng tôi là để nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia phiên tòa, bảo đảm sự giám sát của dân đối với hoạt động xét xử, cũng như bảo đảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa của hoạt động xét xử. Để đảm bảo nội dung này, Tòa án phải niêm yết kế hoạch xét xử tại trụ sở của Tòa án để nhân dân biết và tham gia. Đối với những vụ án thu hút sự chú ý của nhân dân, Tòa phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và tham gia.

Thời gian gần đây, có nhiều phiên Tòa mà số lượng người tham dự rất đông. Thay vì khuyến khích và tạo điều kiện cho họ tham gia thì lực lượng cảnh sát bảo vệ phiên tòa và Tòa án cố tình ngăn cản không cho người dân tham gia với lý do:
- Phòng xử án hẹp, không đủ chổ.
- Tham gia đông không đảm bảo trật tự phiên tòa.
- Cá biệt, có Tòa còn yêu cầu người tham gia phải có đơn xin tham dự.

Theo chúng tôi, dù với bất cứ lý do nào cũng đều không thể hạn chế số lượng người tham gia vì điều đó là vi phạm Bộ luật tố tụng hình sự và cao hơn nữa là những hành động "vi hiến".

Để khắc phục tình trạng nêu trên và tránh tình trạng vi phạm "Nguyên tắc xét xử công khai" theo chúng tôi Tòa án có thể tiến hành một số giải pháp sau:
1/ Tạo điều kiện thuận lợi cho giới truyền thông tham gia, để những người dân không tham dự trực tiếp có thể xem qua các kênh này.
2/ Phòng xử án hẹp, thiếu chổ, Tòa có thể bố trí loa phát thanh ngoài phòng xử án để người dân không vào phòng xử án có thể nghe những diễn biến của phiên tòa.
3/ Nếu có điều kiện (chúng tôi cho rằng rất khả thi) tòa có thể dùng camera và các màn hình đặt ngoài phòng xử án để người dân trực tiếp theo dõi diễn biến phiên toàn.
4/ Trong trường hợp cần thiết Tòa có thể xử ở nơi khác (ngoài trụ sở Tòa án). Như vậy, Tòa có thể thuê, mượn những nơi có điều kiện hơn như sân vận động, nhà hát hay hội trường lớn ..v.v..

Tòa án và lực lượng bảo vệ phiên Tòa phải có nghĩa vụ tạo mọi điếu kiện thuận lợi cho mọi người tham dự phiên Tòa. Cản trở hoặc hạn chế người dân tham dự các phiên Tòa, theo chúng tôi là hành động vi phạm pháp luật cần phải nghiêm trị.

TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2008
Lê Trần Luật
Thạc sỹ Luật học
Nguồn: Văn phòng Luật sư PHÁP QUYỀN
.
.
.

 
 

Things you can do from here:

 
 

chương trình vĩ đại,bị dở dang của Phan Châu Trinh

Xây dựng con người tự chủ,
để dân tộc tự chủ, chương trình vĩ đại
bị dở dang của Phan Châu Trinh


Nguyên Ngọc



Đầu thế kỷ XX, sau thất bại của các cuộc khởi nghĩa Cần vương, đã xuất hiện Phong trào Duy Tân, thoạt tiên được khởi xướng bởi một nhóm trí thức ưu tú, thường được gọi là "bộ ba Quảng Nam" gồm Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng. Phong trào nhóm lên ở Quảng Nam, nhanh chóng loan ra khắp Trung Kỳ, ảnh hưởng sâu rộng đến cả nước, đưa tới cuộc Trung Kỳ dân biến năm 1908, cuộc bạo loạn chống Pháp lớn nhất trước Cách mạng tháng Tám. Cuộc nổi dậy bị đàn áp nặng nề, Trần Quý Cáp bị chém ở Khánh Hòa, Phan Châu Trinh bị đày ra Côn Đảo, về sau thoát tù đã sang Pháp để tiếp tục hoạt động, đến năm 1925 trở về nước, và mất ngày 24/3/1926, đến nay vừa đúng 85 năm. Huỳnh Thúc Kháng cũng bị đày Côn Đảo, sau khi ra tù đã chuyển sang hoạt động hợp pháp, chủ trương báo Tiếng Dân, tờ báo đậm khuynh hướng yêu nước chống Pháp sống được lâu nhất dưới thời Pháp thuộc; và trong số ba người, ông cũng là người còn sống được lâu nhất, để trở thành Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945.

Có một điều cần chú ý: cuộc nổi dậy rung trời chuyển đất năm 1908 không hề nằm trong ý đồ hay kế hoạch của những người chủ chốt khởi xướng phong trào Duy Tân, họ không hề lãnh đạo nó, nó nằm ngoài ý định của họ, thậm chí ngược với nguyện vọng và chương trình của họ. Có lẽ đó là một điều chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu, thử giải thích đôi phần hôm nay.

DL

Phan Châu Trinh (1872-1926)

Nói về người đồng chí thân thiết nhất của mình, cũng là người đứng đầu nhóm "bộ ba Quảng Nam", Huỳnh Thúc Kháng có một đánh giá rất đáng chú ý, ông gọi Phan Châu Trinh là "nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam". Như thường thấy ở các nhà Nho uyên thâm chuyển sang Tây học và sử dụng chữ quốc ngữ, Huỳnh Thúc Kháng vốn là người rất nghiêm túc, cẩn trọng, súc tích trong từng câu chữ phát ngôn. Chắc chắn đánh giá trên đây của ông dựa trên những suy ngẫm sâu xa, những hiểu biết rất kỹ về người đồng chí tâm huyết nhất của mình, và những so sánh không hời hợt. Ông hiểu nhà cách mạng không chỉ là người mưu đồ một cuộc nổi dậy, chủ trương một cuộc khởi nghĩa, lật đổ một chính quyền… Nhà cách mạng là người muốn thay đổi một xã hội, biến đổi số phận một dân tộc, chuyển cuộc sống của đất nước và con người sang một cấp độ khác, một đường hướng và một thời đại khác. Chính vì nhận thức như vậy nên ông đã không dành danh hiệu ấy cho ai khác trong những người chiến sĩ và anh hùng cùng thời với ông, ngoài Phan Châu Trinh.

Để cố gắng tìm hiểu đánh giá thoạt nghe có thể đáng ngạc nhiên này, có lẽ cần trở lại dù chỉ rất vắn tắt hành trình tư tưởng và hoạt động của Phan Châu Trinh.


"Đọc sách mới"...


Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, nay là huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Cha ông hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Trần Dư và Nguyễn Duy Hiệu cầm đầu. Năm 29 tuổi đỗ Phó bảng, cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Huy, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; sau đó làm thừa biện, một chức quan nhỏ ở bộ Lễ của triều đình Huế. Những ai đã đọc qua dù chỉ đôi chút về Phan Châu Trinh đều biết ông rất khinh bỉ, căm ghét, đả kích kịch liệt vua quan triều đình Huế. Vậy tại sao ông lại ra Huế và làm quan? Huế bấy giờ là kinh đô, nơi diễn ra đời sống chính trị và văn hóa quan trọng nhất, nơi hội tụ và liên lạc rộng rãi với những nhân vật ưu tú trên cả nước… Và điều còn quan trọng hơn: là đầu mối (cùng với Hội An một phần) qua đường biển tiếp nhận tài liệu đến từ Trung Hoa cũng đang sôi sục trăn trở tìm đường. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dương trong Tuyển tập Phan Châu Trinh, ở phần Niên biểu, về những năm này chỉ ghi rất gọn mà đầy ý nghĩa: "1903: Làm quan ở Huế. Đọc sách mới. Kết giao với Phan Bội Châu… Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cũng ra Huế đọc sách mới." Năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan. Còn Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đỗ cao song không hề chịu làm quan, nhưng cũng ra Huế, để "đọc sách mới". Cùng có mặt ở Huế và cùng say sưa "đọc sách mới" bấy giờ còn có nhiều trí thức nổi tiếng: Phan Bội Châu, Đào Nguyên Phổ, Vũ Phương Trứ… Nhiều người khác như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hiệt Chi, Lương Văn Can… ở Bắc, Hồ Tá Bang, Trần Lê Chất, Nguyễn Trọng Lợi… ở trong Nam, tuy không về Huế nhưng đều liên lạc với trung tâm Huế, và cũng chủ yếu để "đọc sách mới".

"Sách mới" là chữ của Nguyễn Văn Dương dịch cái mà hồi ấy người ta quen gọi là "Tân Thư". Hẳn rồi đến một lúc cần trở lại nghiên cứu những "tân thư", hiện tượng "đọc tân thư" sôi nổi một thời ấy, hiểu cho rõ tác động của chúng đối với một giai đoạn có thể có tính quyết định của lịch sử cận đại nước ta. Tân Thư là các sách được chuyển sang từ Trung Quốc, gồm các tác phẩm của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, và các sách của Nhật, của Pháp được dịch ra chữ Hán, trong đó các tác phẩm kinh điển của Montesquieu (mà người ta dịch là Mạnh Đức Tư Cưu) và Jean Jacques Rousseau (được dịch là Lư Thoa). Sau khi đọc Tân thư, Trần Quý Cáp thổn thức: "… nửa đêm tỉnh giấc, nước mắt đầm đìa". Tân Thư đã gây chấn động dữ dội trong tất cả tầng lớp tinh hoa yêu nước đang đau đáu tìm đường trong thế cùng cực bế tắc sau thất bại Cần Vương anh hùng mà tuyệt vọng. Tìm đường, đi con đường nào đây để có thể cứu nước, đưa dân tộc thoát ra khỏi vòng nô lệ? Tân Thư thổi một luồng gió mới vào những đầu óc đang cháy bỏng bấy giờ. Tác động của nó cực kỳ to lớn. Tuy nhiên, đều là những nhà ái quốc tâm huyết, mỗi người đã chịu tác động đó một cách khác nhau, đi đến những suy ngẫm và những kết luận khác nhau, theo cách nói ngày nay, những phương án chiến lược khác nhau. Chính ở đây ta nhận ra chân dung tư tưởng và văn hóa, chính trị đặc sắc, có thể nói đặc sắc đến "độc nhất", của Phan Châu Trinh. Trong một nghiên cứu gần đây (tháng 9-2010) tác giả Lê Thị Hiền Minh ở Đại học Québec, Canada viết: "Khác với Phan Bội Châu chỉ thấy ở đấy một cuộc chiến đấu vũ trang đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam cũng giống hệt như tổ tiên ông đối với quân xâm lược Trung Hoa, Phan Châu Trinh đã nhận ngay ra một vấn đề phức tạp hơn là một cuộc ngoại xâm về mặt lãnh thổ: vấn đề trang bị cho "những người yếu hơn" các phương tiện để bước vào một cuộc tiến hóa ở cấp độ toàn cầu, đưa dân tộc Việt Nam lên con đường hiện đại hóa."1. Như vậy, nếu đối với hầu hết những chí sĩ yêu nước đương thời, chấn động của Tân thư chỉ là thêm một kích thích mạnh mẽ ý chí dân tộc, tinh thần chống ngoại xâm, mà không dẫn đến một đường hướng gì mới về căn bản, do chưa có thay đổi gì về tầm nhìn; thì ở Phan Châu Trinh (và hai người đồng chí thân thiết nhất của ông trong bộ ba Quảng Nam) nó mở ra một chân trời hoàn toàn khác; như cách nói ngày nay, nó mở ra cho ông chân trời "toàn cầu hóa". Ông là người đầu tiên nhận ra phương Tây, không chỉ là một phương Tây kỹ thuật tiên tiến như Phạm Phú Thứ, thậm chí như Nguyễn Trường Tộ đã thấy và lo lắng …, mà là một phương Tây văn hóa, văn minh, khác hẳn và cao hơn cái thế giới hạn hẹp phương Đông ta từng biết xưa nay và vẫn loay hoay tìm đường trong đó.

Pháp (và phương Tây nói chung bấy giờ) là thế lực (puissance) hoàn toàn khác với Trung Hoa, mối uy hiếp mà Việt Nam đã thành công trong việc giữ một khoảng cách nhất định suốt gần một nghìn năm. Giữ được như vậy là vì dù tương quan lực lượng đã nhiều lần hết sức chênh lệch, nhưng hai bên đều thuộc cùng một thời đại lịch sử, một nền văn minh tương đồng. Thắng lợi của Việt Nam chống đồng hóa Trung Hoa suốt nghìn năm, như chúng ta đã nói nhiều lần, là thắng lợi văn hóa. Thắng lợi văn hóa trong khung khổ đóng kín của phương Đông, hay cũng có thể nói khung khổ thế giới Hán hóa (sinisé).


... và bài học về văn hoá


Giáp mặt với Pháp, với phương Tây, "sự thống nhất văn hóa và chính trị cho đến nay được bảo vệ bằng việc giữ gìn các giá trị Khổng giáo bị lay chuyển bởi các giá trị của thiên chúa giáo và, ít nhận ra được rõ hơn, bởi việc du nhập một hệ chữ viết dựa trên nguyên tắc Hy-La, chữ Quốc ngữ, được coi là ngôn ngữ chính thức song song với chữ Pháp từ năm 1878…"2 Nhà sử học David Marr viết: "Việt Nam đi vào một biện chứng văn hóa và bản sắc quyết định; việc mất lãnh thổ lại cộng thêm mối uy hiếp mất tiếp ngay các quy chiếu tâm lý-xã hội văn hóa… Thế hệ các nhà nho trưởng thành vào những năm 1900 bị ám ảnh bởi hình ảnh 'mất nước', không chỉ theo nghĩa chính trị, mà còn nghiêm trọng hơn là mất 'một sự sống còn về sau với tư cách là người Việt Nam' "… Có lẽ lâu nay, khi nói về tình thế của đất nước vào đầu thế kỷ XX chúng ta đã tập trung chú ý vào sự mất mát đau đớn lãnh thổ, mà chưa làm rõ được hết những khía cạnh sâu xa và tinh tế này của xã hội khi đối mặt với phương Tây, với cuộc "toàn cầu hóa" lần thứ nhất, có thể gọi như vậy, mà Phan Châu Trinh, với một cái nhìn sáng suốt đã là người duy nhất nhận ra một cách hết sức tỉnh táo và sáng rõ. Ông nhận ra không chỉ tai họa đau đớn mất lãnh thổ quốc gia (như trong lịch sử ta đã nhiều lần mất vào tay Trung Hoa), mà lâu dài hơn, sâu sắc hơn, căn bản hơn, khó khăn hơn, nguy hiểm mất còn hơn, ông nhận ra một cuộc khủng hoảng văn hóa nghiêm trọng, thậm chí chưa từng có; điều mà David Marr chỉ ra là ở "các quy chiếu tâm lý-xã hội văn hóa". Về sau Hoàng Xuân Hãn nói rằng chỗ độc đáo và đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh so với tất cả những người ưu tú nhất đương thời, là ông đã đi tìm và tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc sa vào vòng nô lệ bi thảm, ở trong văn hóa, trong sự lạc hậu nguy hiểm về văn hóa của Việt Nam, lạc hậu cả một thời đại, so với thế giới văn minh rộng lớn, toàn cầu, và Việt Nam từ nay không thể sống còn ngoài cái thế giới ấy, cái toàn cầu ấy, mà các tân thư đã mở mắt cho ông nhìn thấy. Vậy nên, tôi nghĩ có thể nói mà không hề sợ quá đáng, Phan Châu Trinh là nhà văn hóa tiên phong và lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX – và có thể cả thế kỷ sau đó nữa như ta sẽ suy nghĩ thêm. Và bài học lớn nhất của Phan Châu Trinh để lại cho chúng ta là bài học về văn hóa.

Từ nhận thức cơ bản đó, ông đặt lên hàng đầu nhiệm vụ và chương trình đưa dân tộc vào "một cuộc tiến hóa ở cấp độ toàn cầu, đưa dân tộc Việt Nam lên con đường hiện đại hóa". Và như vậy, vấn đề lãnh thổ, khôi phục lãnh thổ quốc gia, tức vấn đề độc lập, được coi như là một bộ phận cần thiết nhưng không phải là cứu cánh của chương trình dài hạn rộng lớn, cơ bản hơn nhiều, mà ông biết và chủ trương phải tiến hành từng bước.

Ta từng biết Phan Châu Trinh có chủ trương tự trị; và đi đến tự trị bằng con đường hòa bình, không bao động. Hẳn cần nói rõ, dù chỉ là phần nào, về tư tưởng này của ông, hình như lâu nay thường khá bị hiểu lầm. Trong chủ trương này có phần mà ông gọi là "Ỷ Pháp cầu tiến bộ", học lấy ngay cái hay chắt lọc được của đối thủ để đem lại sự tiến bộ cho dân ta. Thực ra trong suốt lịch sử lâu dài bài học này vốn không lạ với người Việt. Tổ tiên ta đã học biết bao nhiêu của Trung Hoa để góp cho sự trưởng thành toàn diện và cả cho sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc. Huống nữa học lấy văn minh phương Tây mà ta biết ta đã chậm trễ mất cả một thời đại là vô cùng cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, tư tưởng về tự trị của Phan Châu Trinh không chỉ bó hẹp trong ý nghĩa đó. Trong luận văn đã nhắc đến trên đây của Lê Thị Hiền Minh, tự trị được dịch là autonomie. Và theo từ điển autonomie được giải thích: "Quyền tự trị. Quyền tự do, độc lập về đạo đức hoặc về trí tuệ". Đây là khía cạnh và nội dung quan trọng trong chủ trương lớn của Phan Châu Trinh. Lê Thị Hiền Minh viết: "Dự án hiện đại hóa Việt Nam của ông (Phan Châu Trinh), trong thực tế, là một dự án tự trị hóa (autonomisation) trong đó sự tự trị cá nhân và tập thể của những người Việt Nam sẽ thúc đẩy đất nước lên những đường ray của hiện đại hóa và văn minh". Vậy rõ ràng ở đây có thể thay từ tự trị (thường chỉ được hiểu theo nghĩa một thiết chế chính trị) bằng từ tự chủ. Và từ đó, khẩu hiểu nổi tiếng của Phan Châu Trinh "Khai dân trí" cũng rõ ràng bộc lộ một ý nghĩa sâu xa mà có lẽ lâu nay chúng ta cũng chưa thấu hiểu hết tinh thần. Khai dân trí chính là xây dựng nên con người tự chủ, cá nhân tự chủ, để đi đến tập thể tự chủ. Nhà nghiên cứu Verbunt viết: "Chính trong sự tự trị được hiểu là một sự tự tổ chức quản trị trong liên quan phụ thuộc lẫn nhau… Phan Châu Trinh tìm thấy một sức mạnh giải phóng chứ không phải một nền độc lập như Phan Bội Châu. Theo nghĩa đó, tự trị là "giá trị cho phép cùng tồn tại với những người khác mà ta không còn có thể áp đặt nền văn hóa của mình. Quyền của các thiểu số được xác định trong chính chuyển động cơ bản này". Tác giả này còn nói rõ hơn: "Bởi mọi tập thể đều gồm những cá nhân, nên sự tự trị như một tiến trình không thể được trao cho một tập thể người mà không đi qua từng người. Tiến trình mà chúng ta gọi là "tự trị hóa" đó trước hết phải là một tiến trình riêng biệt (tức của từng cá nhân, từng cá nhân tiến đến tự chủ) trước khi đạt đến một kích thước tập thể, và việc đó, thông qua giáo dục, theo Phan Châu Trinh mà khái niệm tu thân trong tự phát triển của mỗi người không hề xa lạ… Dự án tự trị hóa của Phan Châu Trinh đồng thời là một dự án giáo dục hiện đại đưa mọi người Việt Nam qua con đường của trường học tự do ở Bắc Kỳ (tức mô hình Đông Kinh Nghĩa Thục) và một dự án xã hội-kinh tế nhằm thiết lập một hệ thống hỗ trợ tập thể cho sự phát triển của các tổ chức kinh tế…"


"Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh"…


Ở đây cần đặc biệt chú ý tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục nhấn mạnh đến việc xây dựng cá nhân tự chủ, mà ông coi là cơ sở của tự chủ tập thể, tự chủ dân tộc. Nhiều tác giả nghiên cứu các văn bản của Phan Châu Trinh, đặc biệt các thư ông viết cho Toàn quyền Beau, cho vua Hàm Nghi, cho vua Khải Định nêu bật cách xưng hô của Phan Châu Trinh được cho là hoàn toàn có ý thức: ông luôn xưng "tôi". Chúng ta biết về mặt từ nguyên "tôi" vốn xuất phát từ quan hệ "vua-tôi", với ý nghĩa là "tôi tớ, thần dân của vua". Phan Châu Trinh xưng tôi với ý nghĩa khác, ý nghĩa được Alexandre de Rhodes chỉ ra khi ông coi từ này là tương đương với ego trong tiếng La-tinh. "Tôi" của Phan Châu Trinh chính là cái "le moi" phương Tây. Một cái tôi độc lập, có ý thức về nhân cách độc lập và ngang bằng của mình với người đối thoại. Phan Châu Trinh luôn xưng "tôi" trong tất cả các văn bản viết cho nhân dân, cho người cấp trên, cho các quan chức Pháp và Việt. Trong thư gửi Toàn quyền Beau năm 1907, ông mở đầu: "Tôi, Phan Châu Trinh, thự trước tác hậu bổ, tỏ bày cái tình trạng nguy cấp ở nước Việt Nam…". Năm 1922, trong thư Thất điều gửi Khải Định, ông viết: "Tôi, Trinh, sinh găp lúc: trong thì nước nhà nghiêng ngập, ngoài thì các nước đua tranh lên đường tiến bộ…" Lê Thị Hiền Minh nhận xét: "Phan Châu Trinh nói với toàn quyền Beau với tư cách là viên chức nói với viên chức, nhà chuyên môn nói với nhà chuyên môn, con người nói với con người". Một nhà nghiên cưu khác, Trương, B.L. thì viết: "Là con người tư duy tự do, có thể nhìn chính lịch sử của dân tộc mình với một khoảng cách, chính là với tư cách "con người đích thực" ("personne authentique") mà Phan Châu Trinh đã viết cho toàn quyền Beau: "Tôi, Phan Châu Trinh, quan chức cũ…". Guidon cho rằng "bản sắc cá nhân đó (ở Phan Châu Trinh) đòi hỏi một hệ đạo đức thẩm nhập suốt đời, hệ đạo đức của một công dân tự do đảm nhận các quyền và các bổn phận của mình".

Hình như lâu nay khi nghiên cứu về hệ thống các trường Duy Tân mà bộ ba Quảng Nam đã lập được ở tỉnh nhà trong khoảng thời gian từ năm 1903 đến 1908, cũng như về trường Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng ta chưa chú ý tìm hiểu kỹ nội dung và tính chất rất quan trọng này trong quan điểm giáo dục ở các cơ sở nói trên. Chúng ta đã nói nhiều về tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm được kích thích, cổ vũ mạnh mẽ, tinh thần thực hoc ở đây, mà chưa làm rõ được triết lý về xây dựng con người hiện đại tự trị, tự chủ, con người tự do trước hết tự trong chính mình còn sâu xa hơn nhiều của các trường này.

Dò lại hành trình tư tưởng của ông, đọc lại kỹ các trước tác của ông, ta nhận ra rõ ở chính Phan Châu Trinh hình ảnh tiêu biểu của một con người như vậy. Và một con người đạt được đến tự do như vậy thì có khả năng đặt biệt là giữ được khoảng cách với mọi điều đã được coi là "chân lý", là "lịch sử", kể cả với lịch sử của chính dân tộc mình.

Chính với khoảng cách độc lập đặc sắc đó, đầy trách nhiệm và cực kỳ dũng cảm, Phan Châu Trinh đã ráo riết chỉ ra hai nhược điểm chí tử của dân tộc, đặc biệt trong hoàn cảnh của "toàn cầu hóa", mà thẳng thắn một cách phi thường ông cho là tập trung rõ nhất, cực điểm nhất ở một con người đương thời lừng danh mà ông rất thân thiết, yêu mến, kính trọng và bảo vệ: Phan Bội Châu. Hai nhược điểm chí tử: một mặt chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi, sô vanh, mặt khác, nghịch lý thay, ý thức vọng ngoại mù quáng. Ông nói về Phan Bội Châu, mà cũng là nói về dân tộc mình, chẳng hề một chút khoan nhượng, nương nhẹ: "Phan Bội Châu là người chưng ra rõ nhất những tập quán dân tộc hình thành trong lịch sử của dân tộc Việt Nam suốt thiên niên kỷ qua. Nếu có ai đó không biết bản chất thật của người Việt Nam, thì hãy cứ nhìn ông ấy. Dân tộc ta có tình yêu nước hẹp hòi và ở ông ấy, tư tưởng sô vanh lên đến cực điểm. Dân tộc ta có tính vọng ngoại và ở ông ấy, sự phụ thuộc vào sức mạnh bên ngoài lên đến tối đa. Dân tộc ta thiếu tinh thần độc lập và ở ông ấy cái thiếu đó càng rõ rệt hơn cả …".

Phan Châu Trinh coi ý nghĩa của cuộc đời ông là nỗ lực cứu nhân dân thoát ra khỏi những điểm yếu chí tử ấy, tự xây dựng cho mình, từ từng cá nhân, đến toàn dân tộc ý thức tự chủ - mà ông gọi là tự trị. Tư tưởng đó tập trung trong khẩu hiệu nổi tiếng của ông: "Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh"…

Trong một thời gian ngắn hôm nay hẳn không thể nói kỹ và sâu hết về tư tưởng của Phan Châu Trinh mà dẫu chỉ điểm qua ta đã có thể nhận ra tính hệ thống, liên hoàn chặt chẽ, sâu sắc, và tính hiện đại đáng kinh ngạc của nó. Chương trình của ông là chương trình thay đổi một dân tộc, sửa chữa và làm lại nó, tự trong chiều sâu nhất của nó, chiều văn hóa, để nó có thể tồn tại và phát triển trong một thế giới tất yếu toàn cầu hóa.


Kẻ "lạc lối trời Âu"...


Cũng như tất cả những nhà tiên phong, những nhà khai sáng chân chính, nghĩa là những người đi trước, Phan Châu Trinh đã cô đơn trong cuộc đời của ông, và theo một ý nghĩa nào đó, cả về sau nữa. Ông không được sự đồng tình của phần lớn giới sĩ phu cùng thời, trong đó có vị sĩ phu ông kính trọng nhất: Phan Bội Châu. Quan hệ giữa Phan Châu Trinh-Phan Bội Châu là điển hình của một tình bạn kỳ lạ mà tiếc thay hình như ngày nay chúng ta không còn được thấy, đối nghịch kịch liệt về tư tưởng và quan điểm, đường lối, nhưng thân thiết và kính trọng nhau chẳng ai bằng. Khi Phan Châu Trinh mất năm 1926, Phan Bội Châu đã viết đôi câu đối thống thiết và đầy ý nghĩa:

"Thương hải vi điền, tinh vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền
"

"Biển thẳm lấp chưa bằng, tinh vệ còn đội đá
Chung Kỳ thôi đã mất, Bá Nha dứt dây đàn
"


Chung Kỳ Phan Châu Trinh đã mất, Bá Nha Phan Bội Châu đau đớn dứt dây đàn bởi biết còn cùng ai chia sẻ?

Phan Châu Trinh cũng cô đơn trước nhân dân đương thời của ông mà ông đã cống hiến cả cuộc đời để quyết cứu, cho một tương lai xán lạn bền vững mà ông đã sáng suốt nhận ra con đường để đi tới. Ông hiểu điều đó một cách sâu sắc. Ông nói: "Không phải tôi không biết sự ngờ vực của các quan chức người Pháp đối với tôi. Không phải tôi không biết sự căm ghét của các quan chức người Việt đối với tôi. Không phải tôi không biết mối hiềm khích của Phan Bội Châu đối với tôi. Không phải tôi không cảm thấy sự gièm pha của nhân dân Việt Nam đối với tôi. Nhưng tôi không tìm cách tránh sự ngờ vực ấy". Ông tin sắt đá ở tư tưởng của ông, đường lối cứu dân tộc của ông. Là con người tự trị, tự chủ cao độ, là nhà tư tưởng tự do, có khả năng tạo một khoảng cách ngay với lịch sử dân tộc mình, với một hệ đạo đức ông đã tự xây dựng được cho mình, với tư cách là công dân tự do đảm nhận các quyền và các bổn phận của mình, cô đơn, ông dõng dạc tuyên bố: "Việc này, tôi, Trinh, đã nhận ra, quyết đảm nhận lấy, không nhường cho ai nữa hết!"

Gần suốt một trăm năm ông cũng cô đơn với hậu thế. Chúng ta đã quá biết những người coi ông là kẻ "lạc lối trời Âu" …


Tiếp tục chương trình lớn của Phan Châu Trinh


Lịch sử đã đi những con đường khác. Chúng ta đều biết song song với phong trào Duy Tân hòa bình của Phan Châu Trinh, là chủ trương "thiết huyết" của Phan Bội Châu, mà Phan Châu Trinh thẳng thắn chỉ ra rằng ông ấy đã lợi dụng sự ngu dốt của nhân dân (mà Phan Châu Trinh quyết ra công thức tỉnh) để kích động "nhằm thỏa mãn chính khuynh hướng hủy hoại của mình". Cuộc khai dân trí của phong trào Duy Tân, hoàn toàn ngoài ý muốn và chủ trương của những người khởi xướng, chịu ảnh hưởng tự nhiên và cũng tất yếu của phái thiết huyết, sự bất bình tự nhiên và quyết liệt của nhân dân tự phát, đã dẫn đến cuộc Trung Kỳ dân biến 1908 anh hùng của nhân dân nhưng tai hại cho một con đường đi đang được sáng suốt tính toán và thực hiện. Nó đã được kẻ thù lập tức lợi dụng để tiến hành một cuộc tắm máu. Chương trình anh minh và vĩ đại của ông bị phá vỡ và dở dang.

Chúng ta đều biết trong lịch sử không có "nếu". Nhưng suy nghiệm từ lịch sử cho hôm nay thì bao giờ cũng cần. Những gì đã diễn ra thì đã diễn ra. Song phải chăng có thể một trong những nguyên nhân của những vấn nạn mà chúng ta, xã hội chúng ta, đang gặp ngày nay và vẫn còn rất loay hoay chưa thật tìm được đường ra, chính là ở sự dở dang vừa nói trên đó. Cuộc khai hóa cơ bản, do nhà khai hóa vĩ đại Phan Châu Trinh chủ trương và tiến hành một trăm năm trước thì nay vẫn dở dang, vẫn còn nguyên đó.

Rõ ràng tư tưởng của ông, chương trình của ông, trong cốt lõi của nó, hôm nay vẫn còn nguyên tính cập nhật, thậm chí còn nóng hổi hơn, cấp bách hơn.

Tiếp tục chương trình lớn của ông là trách nhiệm lịch sử của chúng ta, mỗi chúng ta, hôm nay, và cả ngày mai.


Nguyên Ngọc

3-2011

Nguồn: Bài nói ở hội thảo về PCT ngày 23/3 do trường đại học Hoa Sen và Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh đồng tổ chức, trong khuôn khổ Ngày giỗ lần thứ 85 của cụ Phan, do tác giả gửi cho Diễn Đàn. Các tiểu đề là của chúng tôi. Hình từ Internet.

1 Lê Thị Hiền Minh – Phan Châu Trinh et le projet d'autonomisation à l'aube du XXe siècle.

2 nt.

LỜI TÂM HUYẾT CỦA MỘT TRÍ THỨC TRẺ 8X

LỜI TÂM HUYẾT CỦA MỘT TRÍ THỨC TRẺ 8X

Tôi viết bài này như một lời tâm tình với tất cả trí thức trẻ Việt Nam và hải ngoại. Mục đích duy nhất bài viết là mong muốn trí thức Việt Nam hãy làm điều gì đó để cứu lấy Việt Nam, cứu lấy chính mình. Tôi là một người Việt trẻ sinh trong thời bình, với kiến thức hạn hẹp nên tôi rất mong được sự góp ý của tất cả các bậc tiền bối. Tôi xin nhấn mạnh một điều: Bài viết của tôi chỉ là một lời chia sẻ gửi đến trí thức mang dòng máu Việt Nam.

Việt Nam hiện nay có nhiều điều kiện để trở thành nước có nền kinh tế phát triển: nguồn lao động trẻ, thuận tiện giao thông, có nhiều loại tài nguyên. Tuy vậy, nước ta vẫn trong cái vòng luẩn quẩn của nghèo nàn, lạc hậu. Nguyên nhân chính là do đất nước chúng ta không tôn trọng tri thức.

Một xã hội bảo thủ, coi thường sư tiến bộ của khoa học dương nhiên sẽ tụt hậu. Và Việt Nam đã tụt hậu. Nếu chỉ so sánh trong Đông Nam Á chúng ta cần tới 18 năm để đuổi kịp Indonesia, 34 năm với Thái Lan và 197 năm với Singapore. Hậu quả của một chính phủ xem thường trí thức.

Ngay trong định hướng của đảng: "Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo" đã sai lầm trầm trọng, phản khoa học.

Vấn đề đầu tư vào giáo dục luôn quyết định hưng, suy của một quốc gia. Nền giáo dục của Việt Nam và cả xã hội Việt Nam làm nhân tài không có đất dụng võ. Với bằng cấp tràn lan, người Việt có khi ảo tưởng về mình. Mỗi năm chúng ta có rất nhiều kỹ sư, cử nhân, tiến sĩ, giáo sư mới nhưng nền kinh tế của chúng ta èo uột, đất nước chúng ta lạc hậu. Hoàn toàn thiếu một sản phẩm Việt sánh ngang tầm các quốc gia khác trên thế giới. Nhắc đến Samsung, Hyundai, người ta nghĩ đến Hàn Quốc, nhắc tới Sony nhớ tới Nhật… Thực tế này cho thấy chất xám Việt đang bi lãng phí.

Có thể nói Việt Nam đã tụt hậu, người lãnh đạo đất nước không phải là tinh hoa của dân tộc, học thứckém xa nhiều người trong xã hội. Bằng cấp Việt Nam không có giá trị quốc tế. Theo tôi, đã đến lúc trí thức Việt Nam nhìn thẳng vào chính mình, nhìn nhận thực tế và thực hiện vai trò của mình để cứu chính mình và cứu xã hội. Thực tế cần phải chấp nhận: nước ta là nước nghèo nàn, lac hậu. Và nếu chúng ta không khắc phục được sự yếu kém của đất nước nạn nhân cũng chính là chúng ta.

Bất cứ xã hội nào, trí thức và tinh thần dân tộc luôn dẫn đầu để đưa đất nước đi lên. Nước Mỹ phồn vinh với giấc mơ Mỹ, Người Hàn Quốc chấp nhận "ăn mày chất xám" ở phương tây, tinh thần Samurai của Nhật… Các dân tộc khác đã làm rạng danh dân tộc họ. Việt Nam kém phát triển chứng tỏ trí thức Việt chưa phát huy được vai trò của mình. Trí thức Việt đang bị gông cùm, bị cuốn vào vòng xoáy của xã hội lưu manh và mất đi trí thức, ý chí.

Là một người sinh sau 75, tôi chỉ nêu ra cái vòng xoáy mà người trí thức trẻ phải chịu. Sau năm 75, thế hệ 8x là lực lượng trí thức đông đảo nhất. Rất tiếc, không ít phải thỏa hiệp với cái lưu manh trong xã hội "hành hạ nhau mà sống". Xã hội mà trí thức vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm. Tôi đưa ra vài ví dụ cho thấy cái vòng luẩn quẩn mà chí thức phải chịu:
VD: Một bác sĩ với mức lương chết đói, anh ta tìm cách làm khó bệnh nhân để nhận "lót tay". Nhưng khi anh ta sử dụng các dịch vụ khác, anh ta lại bị làm khó lại.

Vụ sập cầu Cần Thơ, những kỹ sư làm việc trên công trình đó đã làm hại hoặc tiếp tay cho người khác làm hại rất nhiều người. Sẽ ra sao nếu như những kỹ sư này đứng dưới công trình của chính họ.

Mỗi người trong xã hội tự hại mình và hại người khác. Có thể nói trí thức Việt Nam cũng như bao người Việt khác là nạn nhân của nhau, nạn nhân của định hướng xã hội, nạn nhân của sự lãnh đạo tồi tệ. Một nền giáo dục tồi tệ.

Khi một người nước ngoài nói: "Giáo dục Việt Nam tồi tệ", chúng ta phải công nhận họ đúng. Nền giáo dục của chúng ta mang tính chất bịt miệng, giáo điều. Học sinh phổ thông học khổ hơn đi cày. Học, học như điên, như bị ma đuổi. Học sinh cố gắng vào trường A, trường B mà đôi khi không biết học ngành đó làm gì, ngành đó ra sao, mình có thích ngành đó hay không. Học sinh bị nhồi vào đầu những kiến thức mang tính giáo điều. Ngay cả văn chương, nhạc họa cũng sặc mùi đảng, đảng, đảng..... Họ không được cung cấp kiến thức xã hội để có thể định hướng cuộc đời. Phương tiện truyền thông đưa những thông tin láo khoét. Cứ coi điểm chuẩn của các trường đại học sẽ thấy nực cười. Có ngành năm trước cao ngất, năm sau xấp xỉ xuống sàn. Học sinh chạy theo ngành nghề đan g nổi. Những năm gần đây, kinh tế lên ngôi, sự bùng nổ của ngân hàng, chứng khoán làm mức lương ngành này cao ngất và đương nhiên điểm chuẩn tăng theo. Bên cạnh đó, nhiều ngành kỹ thuật lại không phát triển, lương kỹ sư bèo bọt. Có thể nói giáo dục không định hướng, nền giáo dục ăn theo. Nhìn nhận lại nền giáo dục, chúng ta thấy hầu như các trường đào tạo theo kiểu đem con bỏ chợ, lãng phí thời gian và tiền bạc của sinh viên. Việt Nam có rất nhiều trường thuộc bộ nhưng ngành chính thì mờ nhạt so với các ngành khác.

Các trường này chỉ biết cấp bằng còn sinh viên ra trường sẽ như thế nào họ không quan tâm. Sinh viên bị buộc đóng tiền và lãng phí rất nhiều thời gian cho các môn vô bổ hoặc vô lí. Triết học Mác- Lê tốn khá nhiều thời gian, kinh tế chính trị, học xong bỏ xó, lịch sử đảng tách thành 1 môn riêng biệt. Có những trường đào tạo Anh Văn cho sinh viên với giáo trình cơ bản mà học sinh phổ thông đã học qua. Nếu tính số tiền đầu tư cho một sinh viên đại học ta thấy sự lãng phí rất lớn, cái bằng không có giá trị thực thụ. Bốn năm học tiêu tốn cả trăm triệu và sau ra trường phải đi "đào tạo lại".

Điều chắc chắn là nếu giáo dục không được đầu tư đúng sẽ rất lãng phí thời gian, tiền bạc và chất xám.Thực tế là kỹ sư Việt Nam có rất nhiều người làm bảo trì nhưng nếu máy hư, kỹ sư chỉ được phép gỡ, chờ kỹ sư nước ngoài. Có người đã nói : Kỹ sư Việt Nam thầy không ra thầy, thợ không ra thợ.

Cả xã hội đang đuổi theo một thứ rất hư ảo: Bằng cấp. Một thứ mà ngay tại Việt Nam cũng chưa được tôn trọng. Nếu những năm trước đây, tiến sĩ, giáo sư hiếm thì nay tràn lan. Có vẻ như bậc đại học bây giờ chỉ là phổ cập. Cả xã hội đua bằng cấp trong khi giá trị của cái bằng lại ngày càng giảm. Tư tưởng học lấy bằng rất đáng lo ngại.

Với hệ thống giáo dục tệ hại, người Việt không phát huy được năng lực, không sánh tầm được với đồng nghiệp thế giới. Trí thức Việt sống trong môi trường thiếu lành mạnh, khoa học.

Đảng cộng sản Việt Nam và hệ thống truyền thông nô dịch đã lừa bịp toàn dân. Họ làm cho người dân tưởng đất nước đang đi lên một cách mạnh mẽ bằng cách đưa ra những con số mị dân trên phương tiện truyền thông.

Nhưng nếu chúng ta thử đặt bên cạnh những con số khác thì sẽ ra một kết quả cười ra nước mắt. Ví dụ: tăng trưởng 7% bên cạnh lạm phát 11%. Nhà nước ra rả nói đã thoát nghèo nhưng trên VTV1 ngày 21-1-2011, khi nói về một gia đình "cận nghèo", thu nhập 300 ngàn/ người/tháng. Mức cận nghèo là 0.5 USD/người/ngày. Nhiều người vì không để ý đã tin tưởng vào thông tin họ nghe thấy và ảo tưởng về Việt Nam.

Điều đáng tiếc là vẫn còn nhiều trí thức trẻ đang tiếp tay cho sự dối trá. Về mục đích, họ cũng vì mưu sinh. Họ chấp nhận mua việc làm ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước với cái giá không nhỏ và tin tưởng rằng họ sẽ ổn định. Họ bước vào vòng xoáy, đầu hàng nghịch lí. Nhưng nếu xét kỹ họ cũng không khá hơn được. Ai hiểu về cơ quan, doanh nghiệp nhà nước đều phải công nhận rằng càng ngày xin chỗ làm càng khó, giá càng cao. Trong khi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước yếu kém còn nguồn nhân lực tăng nhanh (do con cháu, quen biết trong ngành) thì việc hiếm là đương nhiên. Với 40% tổng vốn của nền kinh tế quốc doanh chỉ tạo ra 26 % GDP. Vinashin là bài học nhãn tiền.

Nhìn sâu vào hoạt động của các tập đoàn nhà nước, chúng ta có thể thấy các tập đoàn này đang tìm mọi cách để giành giựt lợi nhuận của nhau. Việc các tập đoàn kinh doanh đa ngành không nói lên sự phát triển: Dầu khí, EVN, nhảy vào viễn thông. Viettel, VNPT cũng giành giựt nhau từng ngày. Các tập đoàn đang bế tắc, tìm cách kiếm tiền bằng cách đầu tư vào ngành đang ăn khách. Hiện tại,Vinashin đang gây ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong của các tập đoàn khác. Trái phiếu chính phủ xuống hạng rác, các tập đoàn khó khăn với ngân hàng nước ngoài. Nếu như các tập đoàn này phá sản như Vinashin , những trí thức đã mua việc vào cảnh tiền mất tật mang. Họ cũng khó thích ứng với công việc ngoài quốc doanh.

Nhiều trí thức chọn con đường du học. Họ đi và phải tìm cách ở lại nước ngoài vì so với mức đầu tư của họ, mức lương trong nước không thích ứng được. Họ vào cảnh tha phương cầu thực.

Vài trí thức bước vào con đường của doanh nhân và không ít đã bị gẫy nặng trước một cách thức làm ăn lưu manh. Trí thức Việt bị bít đường sống.

Với hiện trạng, tôi nghĩ đến tư tưởng của Lỗ Tấn: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Đã đến lúc người trí thức Việt phải tự giải cứu mình để trở thành trí thức thực thụ, để nhận đồng lương một cách công khai, xứng đáng và không phải áy náy với bất cứ ai. Trong lịch sử, các cuộc cách mạng thường được một lực lượng trí thức dẫn đầu. Trong dân tộc cũng có những người đã từng đưa thanh niên đi du học để giải phóng đất nước.

Tôi nghĩ trí thức Việt nên nhìn nhận xã hội và hành động thiết thực bằng cách đưa tin tức chân thực đến với mọi người. Truyền thông luôn đóng vai trò quan trọng để thay đổi xã hội. Chúng ta hãy tự đào tạo mình, hãy viết suy nghĩ của mình, hãy phân tích bẻ gẫy luận điệu dối trá của đảng. Gửi những thông tin, bài viết có giá trị về tình hình đất nước cho bất cứ ai qua email hay bất cứ phương tiện nào có thể. Tôi mong muốn những trí thức ở hải ngoai hãy giúp đỡ trí thức trong nước bằng những tài liệu, giáo trình của các đại học tân tiến trên thế giới qua internet để người muốn học có cơ hội tiếp cận. Chúng ta sẽ có một lực lượng mạnh nếu đoàn kết. Đảng cộng sản xử dụng chiêu chia rẽ, đưa vào chúng ta những ranh giới: hải ngoai- trong nước, khen người này chê người kia nhằm ngăn cản sự đoàn kết. Chúng ta hãy sát cánh bên nhau để trí thức tiền bối chỉ dạy trí thức trẻ, một khối đại đoàn kết Việt Nam. Tôi góp ý vài điều mà bất cứ ai cũng có thể làm:

- Tích cực tự học hỏi và chia sẻ tài liệu cho người khác, xích lại gần nhau qua email (chúng ta không cần biết nhau, chỉ cần là người Việt )
- Viết báo, phân tích báo chí nô dịch để vạch mặt kẻ nói dối.
- Tham gia tuyên truyền (Gửi email cho bất cứ ai)

Hãy cùng tôi tích cực dọn đường cho sự thay đổi của Việt Nam. Vì chính chúng ta, vì Việt Nam, để không còn nỗi nhục nhược tiểu, để không có cảnh phụ nữ Việt phải đi lấy chồng ngoại, trẻ em Việt bị mua bán, bị đẩy vào các nhà chứa, để trí thức Việt không còn phải tha phương cầu thực, nông dân, công nhân không phải vất vả và còng lưng trả nợ cho kẻ cầm quyền. Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.


Nguyễn Nguyễn

http://vndcradio.com/index.php/chuyen-mc/binh-lun/1797-li-tam-huyt-ca-th-h-tri-thc-tr-8x-trong-nc.html

Chương 6. Những thực tế phổ biến (Nguyen Tran Bat)

Chương 6. Những thực tế phổ biến

I. Trạng thái nô lệ mới
II. Các giới hạn nhân tạo của tự do (Nhà nước, Hệ tư tưởng, Văn hóa, Sự nghèo đói)
III. Khuyết tật của đời sống hiện đại (Sự tha hóa của cái Tôi, Tham nhũng, Bóc lột, Lộng hành)


Có một thực tế rất phổ biến trên thế giới hiện nay, đó là trạng thái thiếu tự do ở một bộ phận lớn của thế giới - các nước chậm phát triển. Đại bộ phận của thế giới đang ở trong trạng thái các năng lực của con người không đáp ứng được các đòi hỏi của thời đại mà nó tồn tại, tức là con người ở trạng thái thiếu tự do. Con người ở trạng thái thiếu tự do bởi vì nó không có tự do hoặc là nó bị kìm hãm không được quyền tiếp cận với tự do, cũng như nó được giáo dục để không hiểu hết các giới hạn mới của tự do. Thực tế phổ biến này tố cáo sự tồn tại của các thể chế phi dân chủ, đồng thời nó là một minh chứng cho sự tồn tại của trạng thái nô lệ của con người trong thế giới hiện đại.

Chế độ nô lệ mà con người từng biết trong lịch sử đã chấm dứt ở trên thế giới từ lâu nhưng hình ảnh người nô lệ cũng như các tiêu chuẩn để làm con người trở thành nô lệ thì chưa chấm hết. Chúng ta đã chứng minh rằng nếu không có tự do thì không có con người. Sự thiếu tự do ở các thể chế phi dân chủ cho thấy ở những nơi đó chưa có con người hoàn chỉnh mà chỉ có con người trong trạng thái nô lệ.

Con người không bắt buộc phải làm việc một cách nô lệ nữa nhưng thay vào đó, con người buộc phải làm những điều để phù hợp với tiêu chuẩn của một nền sản xuất hiện đại trong điều kiện không được trang bị kiến thức phù hợp. Việc ngăn cản con người tiếp cận những phương tiện để chuẩn bị cho mình những năng lực đáp ứng được đòi hỏi của thời đại, hay sự chênh lệch về những điều kiện vật chất mà con người cần phải có để thoả mãn những tiêu chuẩn hiện đại của đời sống là một trong những dấu hiệu về việc con người mới chỉ được giải phóng một nửa. Vậy tại sao nhân loại đã từng tạo ra khái niệm tự do với bề dày lịch sử nghìn năm nhưng cho đến nay, các dấu hiệu nô lệ vẫn tồn tại trong đời sống của con người ở một bộ phận lớn của thế giới?

Chúng tôi cho rằng nhà nước, các hệ tư tưởng, văn hóa và sự nghèo đói là bốn nhân tố cơ bản đang trói buộc tự do của con người, đẩy con người vào trạng thái nô lệ. Đây là một trạng thái nô lệ mới, là kết quả của việc con người bị nô dịch bởi các công cụ do mình sáng tạo ra. Điều đáng buồn là phần đông nhân loại hiện nay vẫn không nhận ra sự mất tự do của mình và đó chính là lý do khiến cho các nước chậm phát triển đến nay vẫn chìm đắm trong lạc hậu và nghèo đói.

I. Trạng thái nô lệ mới

Cùng với sự chấm dứt của chế độ chính trị nô lệ, trạng thái nô lệ theo định nghĩa cổ điển về cơ bản cũng không còn tồn tại nữa, nhưng trạng thái thiếu tự do một cách phổ biến hiện nay lại đang chỉ ra một cách rõ ràng những tính chất mới của khái niệm này.

Mặc dù ngày nay, nô lệ không còn là một thể hoàn chỉnh được đặt tên là kẻ nô lệ hay tên nô lệ như trước đây nhưng nô lệ hiện đại hay nô lệ phi hiện đại thì cuối cùng, sản phẩm của nó vẫn là nô lệ. Khái niệm Nô lệ hiện đại nói đến những khuyết điểm hay trạng thái có tính chất nô lệ được thể hiện một cách không liên tục trong những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần và tâm lý của con người. Không ai nhìn một người ở thế kỷ XXI này ăn mặc sáng sủa, hát nhạc Rock, nhạc Pop lại có thể tưởng tượng được người ấy có chất lượng nô lệ ở trong mình, nhưng nếu như nhìn vào cuộc sống, nhìn vào tương lai thụ động của người đó thì chúng ta sẽ thấy dấu hiệu của trạng thái nô lệ hiện đại. Cũng không ai có thể tưởng tượng được nhiều trí thức đến giờ này còn là nô lệ, nhưng khi họ bắt đầu phát biểu thì chúng ta sẽ cảm thấy những dấu hiệu của trạng thái nô lệ hiện đại hiện ra trong lời nói của họ. Con người lội bộ trong một loạt các chỉ dẫn có tính chất áp đặt thì đấy chính là trạng thái nô lệ hiện đại. Một cách khái quát có thể nói, trạng thái nô lệ hiện đại là trạng thái mà con người hành động phải tuân thủ các tiêu chuẩn mà nó không tham gia vào quá trình thảo luận để tạo ra nó. Đó là trạng thái con người phải chịu quá nhiều đòi hỏi, quá nhiều quy định mà chính nó không được góp phần tạo nên các tiêu chuẩn hay các quy định đó. Nói cách khác, trạng thái nô lệ hiện đại không phải là biến một con người trở thành nô lệ mà biến mỗi hoạt động của con người trở thành một hoạt động có tính chất nô lệ.

Trong điều kiện như thế, con người không thể rèn luyện để hình thành các năng lực cần thiết để phát triển bản thân mình và phát triển cuộc sống chung. Ở đâu mà cuộc sống không hỗ trợ con người trong việc phát triển các năng lực để phục vụ cuộc sống của nó thì ở đó có dấu hiệu con người rơi vào trạng thái nô lệ hiện đại.

Con người không sống với tư cách là một chủ thể tạo ra những năng lực, những thành tựu của chính mình. Sự không tương thích về kinh nghiệm vận hành cuộc sống trong những điều kiện tiện nghi hiện đại cũng là dấu hiệu của việc rơi vào trạng thái nô lệ hiện đại.

Có thể nói, nô lệ hiện đại là trạng thái nô lệ của những con người đã bắt đầu làm quen với những khái niệm hiện đại nhưng không được sử dụng nó trên thực tế để bảo vệ các khả năng phát triển của chính mình. Điều đó có nghĩa là ở trong trạng thái này, con người không còn cảm thấy mình tự do trong giai đoạn hiện tại. Sự tái hình thành các dị tật xã hội làm cho con người không còn cảm thấy tự do ngay cả khi tự do đã được khẳng định là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Các tiêu chuẩn, các quyền tự do là điều không còn bàn cãi và từ lâu trên thế giới đã hình thành các khế ước mà người ta gọi là các công ước có chất lượng điều hành toàn cầu về các quyền con người. Nhưng sự thực thi các quyền đó trên thực tế ở mỗi quốc gia lại là một vấn đề khác, do đó, nghiên cứu trạng thái nô lệ hiện đại của con người đòi hỏi phải được đặt trong mối tương quan giữa các quyền con người và sự thực thi các quyền đó trên thực tế.

Trên thế giới hiện nay có nhiều lực lượng xã hội vẫn muốn thảo luận rằng lý thuyết về quyền có phải là lý thuyết duy nhất làm cho con người cảm thấy hết giá trị cuộc sống của mình không. Người ta vẫn cho rằng còn có những phương pháp khác, những giá trị khác ưu việt hơn thế. Các quốc gia mà về cơ bản là chậm phát triển vẫn cố tranh luận rằng vai trò quan trọng của các quyền cá nhân không có tính chất phổ biến toàn cầu. Các quyền đó ở phương Tây có thể là tuyệt đối quan trọng nhưng ở phương Đông thì chưa chắc. Người ta cho rằng, ở phương Đông do kinh tế không phát triển, do đời sống vật chất không phát triển cho nên cái mà con người cần trước tiên là những điều kiện tối thiểu để có thế sống, để có những điều kiện ban đầu cho sự phát triển. Hay con người ở các nước phương Đông mới dừng lại ở việc tìm kiếm những điều kiện ban đầu của sự phát triển, nên các quyền con người đôi khi là không cần thiết. Vì vậy đôi lúc các quyền tự do cá nhân mâu thuẫn với các quyền tồn tại của cộng đồng, và theo một số nhà chính trị thì như thế là có hại. Theo lý lẽ đó, việc công nhận, truyền bá và phổ biến các quyền cá nhân đôi lúc trở nên có hại cho quyền của cộng đồng hay phá vỡ sự yên ổn mà các chính phủ cần có để tạo ra những điều kiện mà con người cần là ăn, mặc, ở. Tức là trong giai đoạn phát triển kinh tế để tạo ra những điều kiện cơ bản của con người thì một số chính phủ cần cái khác chứ không cần nhân quyền. Tùy thuộc từng chính phủ mà cái khác đó có nội dung khác nhau. Chẳng hạn có chính phủ cần sự ổn định chính trị. Họ cho rằng ổn định chính trị là yếu tố quan trọng nhất để tạo ra trạng thái yên ổn cho phát triển kinh tế và sẵn sàng bỏ qua các yếu tố quan trọng khác. Chính phủ Trung Quốc một vài năm trước đây cũng có những luận thuyết tương tự. Một số quốc gia khác mặc dù đã ra khỏi tình trạng khó khăn nhưng vẫn cho rằng nhân quyền nghiêng nặng về các quyền cộng đồng, Singapore là một ví dụ. Tại sao lại có trạng thái như vậy?

Tôi không đi theo hướng nghiên cứu quan điểm của các chính phủ ở các nước phương Đông đúng hay sai về mặt chính trị mà là đúng hay sai về mặt triết học. Quan điểm nhất quán của tôi trong nghiên cứu này là tự do sinh ra con người. Tự do là điều kiện cơ bản để tạo ra con người chứ không phải tạo ra các trạng thái ăn no-mặc đẹp hay trạng thái ăn đói-mặc rách của con người. Các nhà chính trị đều cho rằng các quyền nhân thân, các quyền dân sự là lãng phí trong điều kiện các nước còn chưa phát triển. Nhưng trên cơ sở lập luận tự do sinh ra con người chúng ta thấy, nếu nhà cầm quyền chưa thích tự do thì có nghĩa là họ chưa muốn quản lý và tổ chức con người, hay nói cách khác chính quyền và nhà nước đó không dựa vào nguyên lý cần quản lý và xúc tiến sự phát triển con người chứ không phải là quản lý và xúc tiến sự phát triển những đối tượng sinh học theo những định nghĩa có chất lượng chính trị hoặc văn hóa. Ai đó có thể đưa ra định nghĩa tự do, các nhà cầm quyền hoàn toàn có thể gói ghém các điều kiện chính trị hay các nội dung chính trị vào trong khái niệm tự do nhưng không ai có quyền đưa ra các nội dung để thảo luận lại khái niệm con người. Chính vì thế, thay vì thảo luận rằng các nước lạc hậu đã cần tự do chưa, chúng ta sẽ thảo luận một vấn đề quyết liệt hơn nhiều, đó là các nước lạc hậu đã có con người chưa? Bởi một đối tượng sinh học được gọi là con người phải thỏa mãn những tiêu chuẩn tối thiểu của nó. Đó là "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Nguyễn Trần Bạt (1946)

-
S
áng lập kiêm chủ tịch và Tổng Giám đốc InvestConsult Group.
- Cử nhân luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và bằng kỹ sư xây dựng dân dụng của Đại học xây dựng Hà Nội.

Ông Bạt được coi là người đầu tiên xây dựng một công ty Việt Nam tư vấn chuyên nghiệp về đầu tư và kinh doanh ngay sau khi Việt Nam ban hành chính sách "Đổi mới" năm 1987 mở cửa nền kinh tế Việt Nam cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Ông Bạt là tác giả của rất nhiều bài báo, sách và các công trình nghiên cứu tập trung vào nội dung làm thế nào Việt Nam phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Ông Bạt được nêu danh trong cuốn Barons Who's Who in Vietnam và Barons Who's Who in Asia Pacific như một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc.

Các sách đã xuất bản:

1. Văn hoá và Con người, NXB Hội nhà văn, 2005
2. Suy tưởng, NXB Hội nhà văn, 2005
3. Cải cách và sự phát triển, NXB Hội nhà văn, 2005
4. Cội nguồn cảm hứng, NXB Hội nhà văn, 2008

>> Trang Tác giả...

Không thừa nhận đầy đủ nội dung của khái niệm tự do là đi ngược lại đòi hỏi thực tế của con người và đó là bằng chứng của sự không thừa nhận các quyền cơ bản của con người. Không thể tiếp tục biện minh cho cái gọi là sự khác biệt giữa khái niệm hay mức độ tự do cần có trong sự phát triển của xã hội phương Đông và phương Tây. Nhưng ngay cả trong trường hợp chúng ta đồng ý nhân nhượng với quan điểm cho rằng tiêu chuẩn của tự do có thể thấp hơn ở phương Đông thì liệu chúng ta có thể chấp nhận được không khi điều đó có nghĩa là tiêu chuẩn con người ở phương Đông có thể thấp hơn ở phương Tây? Đã đến lúc các nhà chính trị ở các nước lạc hậu phải nghiêm túc trả lời câu hỏi: Nếu cho rằng tự do là chưa cần ở những nước lạc hậu, rằng con người có thể chưa cần các quyền nhân thân, các quyền dân sự hiện đại, vậy thì các nước lạc hậu có cần các công dân của mình là con người không? Bởi vì nếu theo tinh thần là phương Đông không cần tự do như phương Tây thì chúng ta cũng không cần nghiêm khắc lắm để nói về con người, tức là chúng ta có quyền ngờ vực tất cả các luận thuyết nói về con người. Chính vì thế, cần phải thay thế việc thảo luận khái niệm tự do cần hay không bằng việc thảo luận là xã hội có cần công dân của mình là con người hay không? Một xã hội có cần thiết phải cấu trúc từ con người không? Rõ ràng không có tự do thì không có con người hay không có tự do thì tức là con người ở trong trạng thái nô lệ. Phần tiếp theo sẽ là những phân tích về những công cụ trói buộc tự do của con người để thấy rõ được thân phận nô lệ của con người trong thế giới hiện đại. Ở đây tôi xin nhắc lại rằng, tự do không có ranh giới tự nhiên hay ranh giới khách quan, tự do chỉ có ranh giới nhân tạo, đó chính là sự trì hoãn của các thế lực xã hội đối với các quyền tự do của con người.

II. Các giới hạn nhân tạo của tự do

1. Nhà nước

Nguyên lý góp vốn tự do cho thấy việc con người nhượng bớt tự do để tạo ra nhà nước, về bản chất là tạo ra ranh giới nhân tạo của tự do, để dung hoà tự do bản năng của mỗi người. Nhà nước sinh ra là để phục vụ con người nhưng ở một khía cạnh nào đó nó cũng hạn chế tự do của con người thông qua việc điều chỉnh một phần tự do cá nhân thành tự do cộng đồng. Có thể nói, nhà nước là một ranh giới nhân tạo có tính chất tất yếu của tự do. Nhưng cái đáng lên án là hiện tượng các nhà nước phi dân chủ lợi dụng cái giới hạn tất yếu đó để kìm hãm tự do của con người và trở thành những lực lượng chèn ép cuộc sống.

Tất cả các nhà nước đều mấp mé trạng thái phi dân chủ, nhưng chỉ có nhà nước dân chủ mới khắc phục được trạng thái phi dân chủ của mình một cách thường xuyên còn nhà nước phi dân chủ thì không làm được việc ấy. Mâu thuẫn giữa tự do của nhà nước và tự do của xã hội phản ánh mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà nước với quyền lợi của xã hội. Mâu thuẫn này trong điều kiện xã hội dân chủ được điều chỉnh hợp lý và kịp thời bởi cơ chế tự cân bằng của thể chế dân chủ, còn trong điều kiện xã hội phi dân chủ thì mâu thuẫn này dường như là cố hữu, do đó dẫn đến tự do cá nhân bị kìm nén, bị chi phối hay kiềm toả, tức là con người thiếu tự do. Con người thiếu tự do thì không được rèn luyện đủ năng lực để thỏa mãn các đòi hỏi của thời đại, do đó không phát triển được.

Có thể nói, sự thiếu tự do ở các nước chậm phát triển là một thực tế phổ biến, như đã nói ở trên, đại bộ phận con người lạc hậu đang ở trong trạng thái thiếu tự do bởi vì họ không có tự do hoặc là bị kìm hãm không được quyền tiếp cận với tự do, họ được giáo dục để không hiểu hết các giới hạn mới của tự do. Khi con người không tự do về mặt tinh thần thì con người không phải là chính mình, mà không phải là chính mình thì không sáng tạo được, không có đủ năng lực để chịu trách nhiệm về mình và cũng không có nhu cầu để tự chịu trách nhiệm về mình. Và đó là nguyên nhân tại sao đến nay họ vẫn nghèo khổ. Các nước chậm phát triển đang ở trong trạng thái các năng lực của con người không đáp ứng được các đòi hỏi của thời đại, hay là chỉ số của tự do dưới mức đòi hỏi của thời đại. Không chỉ có con người không có tự do không có năng lực sáng tạo, mà con người có tự do hạn chế cũng không có năng lực sáng tạo. Sáng tạo là nghĩ ra, phát hiện ra, tạo ra những vật phẩm thỏa mãn đòi hỏi của thời đại. Nếu anh không có năng lực thỏa mãn những đòi hỏi của thời đại thì dù có tạo ra sản phẩm chúng cũng chỉ là những thứ phẩm không phục vụ sự phát triển.

Một trong những nguyên nhân chính khiến con người biến thành nô lệ là con người bị ràng buộc, bị kìm hãm bởi các quyền lợi của một tập đoàn điều hành vĩ mô. Hầu hết các trạng thái này thuộc về những nơi chậm phát triển, tức là người ta sử dụng các công cụ như là một phương tiện để bảo vệ một nhóm lợi ích nhỏ và do đó vô tình tiêu diệt hoặc hạn chế tự do của nhân dân. Ở đó nhà nước là người điều hành, điều chỉnh toàn bộ cái gọi là khế ước xã hội.

Khế ước xã hội trở thành nhà tù của các quyền tự do cá thể khi nó được góp vào, còn bộ máy nhà nước là nơi điều khiển và sử dụng cái kho thiếu tự do hay cái nhà tù ấy và tìm mọi cách duy trì tính hợp pháp của nó. Chúng ta đều biết nhà nước cũng là một lực lượng xã hội, nếu trong một chế độ chính trị mà nhà nước có những quyền lợi riêng của nó, có nền kinh tế của nó thì tất yếu sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà nước và quyền lợi của xã hội. Sự tranh chấp quyền lợi giữa nhà nước với xã hội góp phần hạn chế tự do của con người. Điều này được thể hiện hàng ngày thông qua sự điều hành, quản lý không tốt làm mất mát, lãng phí tiền của của xã hội và nhà nước trở thành lực lượng làm hạn chế tự do của con người. Tức là nhà nước không sử dụng một cách sòng phẳng phần vốn tự do mà nhân dân đóng góp để đánh đổi lấy sự an toàn và sự đảm bảo các điều kiện vĩ mô cho phát triển từ phía nhà nước.

Sự an toàn của con người đòi hỏi phải được đảm bảo bởi nhà nước, đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất kỳ nhà nước nào. Nhưng các nhà nước lạc hậu đã không làm nổi nhiệm vụ đó. Nếu xét trên quan điểm an ninh, quốc phòng thì tham nhũng là hiện tượng nội xâm, đó là hiện tượng xâm lược về kinh tế trong lòng mỗi quốc gia. Tình trạng tham nhũng tràn lan ở các nước lạc hậu là biểu hiện của sự băng hoại toàn diện đời sống tinh thần của xã hội, do đó tiềm ẩn những nguy cơ rất lớn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Ở những xã hội mà mức sống của người dân còn thấp, các điều kiện xã hội không được đảm bảo, tham nhũng gây ra những tổn thất, những rủi ro vô cùng lớn cho xã hội vì nó làm trầm trọng thêm tình trạng kém phát triển của xã hội. Những kẻ tham nhũng hàng tỷ đô la như gia đình Marcos đẩy xã hội Philippines vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, làm kiệt quệ đời sống của nhân dân. Hay những vụ thiên tai ở các nước Đông Nam Á gần đây cho thấy nếu nhà nước sử dụng phần vốn góp của con người có trách nhiệm thì cuộc sống của người dân đã không bị đe dọa và tàn phá khủng khiếp đến thế. Tự do đối với sự sống còn, sự an toàn của con người quan trọng chính là ở chỗ này, tức là phải làm thế nào để con người ở các nước lạc hậu hiểu rằng cần phải biến tự do trở thành những quy tắc sống, và các nhà nước lạc hậu cũng phải hiểu rằng tổ chức cuộc sống của con người bằng những quy tắc của tự do là việc mà các nhà nước buộc phải thực thi nếu muốn tồn tại. Đây chính là bản chất chính trị học quan trọng nhất của khái niệm tự do.

Nhà nước dân chủ là nhà nước mà ở đấy mọi cái đều được công khai, nếu nhà nước lấy của dân 5 đồng tự do thì nhà nước phải tiêu hết số vốn đó cho sự an toàn của người dân. Trong khi đó ở những nhà nước phi dân chủ, phần tự do do con người góp vốn không những không được sử dụng hiệu quả mà còn bị sử dụng như là công cụ để kìm hãm phần tự do còn lại của con người. Chúng ta đều biết rằng bất cứ nền chính trị lạc hậu nào đều không có năng lực giải phóng con người, không có năng lực giải phóng tất cả các hoạt động ra khỏi chính trị, nền chính trị ấy "neo" con người vào các hoạt động của nó, vào một số tiêu chuẩn hạn hẹp để quản lý. Tất cả các nền chính trị tiên tiến đều lãnh đạo, tổ chức và điều chỉnh con người trên cơ sở tự do. Nếu mất yếu tố tự do trong hoạt động quản lý và lãnh đạo thì nhà nước đó cũng không tự do. Biểu hiện quan trọng nhất của sự lạc hậu và phi dân chủ của mọi nền chính trị chính là ở chỗ con người không có tự do, con người không được tôn trọng và con người không tin cậy vào cuộc sống. Vậy con người được định hướng đến đâu nếu con người không tin cậy vào hệ thống chính trị, không tin cậy vào cuộc sống và nhất là khi con người không được tôn trọng? Nếu con người không có tự do, con người không được tôn trọng thì sự định hướng ấy mang tính áp đặt. Khi con người được định hướng một cách áp đặt thì con người không thể là đầu ra của quá trình xã hội này và là đầu vào của quá trình xã hội khác, tức là con người mất đi chính tương lai của mình. Điểm mấu chốt của sự tôn trọng con người chính là tự do, vì vậy cần phải tách tiêu chuẩn tự do ra khỏi tập hợp các tiêu chuẩn để xếp nó thành tiêu chuẩn quan trọng số một đối với tương lai của con người.

Như đã nói, trạng thái nô lệ hiện đại không phải là trạng thái biến một con người trở thành một tên nô lệ mà biến mỗi hoạt động của con người trở thành một hoạt động có chất lượng nô lệ. Con người không có quyền thảo luận về các quyền của mình, con người bị kìm hãm bởi quyền lợi của nhà nước thì thực ra đó là cuộc sống có chất lượng nô lệ. Thế nhưng nhiều nhà nước vẫn tuyên truyền về những thành tích của mình. Suy cho cùng, giải phóng nô lệ không phải chỉ vì lòng nhân đạo đối với mỗi một con người. Sự hình thành của tất cả các hình thái nhà nước đều có nguồn gốc từ sự đòi hỏi phát triển, tức là một hình thái nhà nước biến mất và bị thay thế bởi một hình thái nhà nước khác tích cực hơn là do nhu cầu của con người về một chế độ chính trị ngày càng ưu việt. Chính vì thế, ở bất kỳ đâu mà nhà nước nói to về nghĩa vụ và thành tích của mình thì đó là bằng chứng không gì hùng hồn hơn để chứng minh được tính lạc hậu về chính trị và tính chậm phát triển về kinh tế của quốc gia đó.

Tất cả những nhà nước chân chính đều là sản phẩm của xã hội, được sinh ra bởi nhân dân, tức là nhân dân phải đóng thuế cho sự tồn tại của nhà nước chứ không phải nhà nước là người lo cho sự tồn tại của nhân dân. "Phải kính trọng con người! Đừng thương hại nó". Marxim Gorki đã từng nói như thế. Con người không có quyền tự lo cho chính mình, không có quyền hoạch định tương lai của mình thì tức là không có các quyền cá nhân và như vậy thì không còn là con người nữa. Tinh thần tự do của thời đại đòi hỏi rằng không ai có quyền nhân danh lo cho nhân dân yên ổn mà khất lần các quyền cá nhân, quyền nhân thân cụ thể. Sự bảo hộ, sự phủ bóng của nhà nước đối với đời sống của người dân càng lớn càng chứng tỏ con người không được tôn trọng, các quyền con người không được tôn trọng và nhà nước đó đã biến mỗi hoạt động của con người trở thành một hoạt động có chất lượng nô lệ.

Sự khác biệt của nhà nước dân chủ và nhà nước phi dân chủ còn ở chỗ, nhà nước phi dân chủ chủ yếu bảo vệ quyền của người đại diện chứ không bảo vệ quyền con người trong khi đối với các nhà nước dân chủ, nhiệm vụ bảo vệ quyền của con người gắn liền với quyền của người đại diện. Công việc bảo vệ quyền của người đại diện khác về bản chất so với việc bảo vệ quyền con người. Đã đến lúc các nhà nước phi dân chủ không thể tiếp tục kể thành tích để kéo dài tính hợp pháp của mình, để bảo vệ sự tồn tại của mình. Thành tích chủ nghĩa là một căn bệnh. Nếu không thừa nhận pháp luật là sở hữu toàn dân, không thừa nhận nền dân chủ chính trị thì có nghĩa là vẫn phải sử dụng chủ nghĩa thành tích để củng cố và bảo vệ địa vị cầm quyền của mình.

Tóm lại, trong thế giới hiện đại, các nhà nước phi dân chủ vẫn đang tồn tại một cách phổ biến, ở đó những quyền cơ bản của con người không được tôn trọng, không được thảo luận và đảm bảo thực thi trên thực tế. Chừng nào một xã hội chưa được quyền thảo luận về quyền con người thì xã hội ấy chưa thể phát triển. Không có một chính phủ tiên tiến nào có thể tạo ra sự tiên tiến thật sự của quốc gia nếu con người ở đó không nhận thức đầy đủ về các quyền con người của mình. Đấy là bài học của các nước châu Á. Malaysia là một nước có chính phủ tiên tiến, nhưng Malaysia không phải là một xã hội tiên tiến, do đó Malaysia không đi xa được. Vì thế các quyền con người là đòi hỏi không thể thiếu cho sự phát triển của mỗi cá nhân. Vấn đề quyền con người không phải là tiêu chí chính trị mà đó là một đòi hỏi của sự phát triển bền vững, sự phát triển trên nền tảng phát triển từng cá nhân. Nếu nhà nước nào không được xây dựng trên cơ sở lý luận như vậy thì nó tiếp tục là một trong những nhân tố trói buộc tự do của con người.

2. Hệ tư tưởng

Nhà nước không phải là yếu tố duy nhất hạn chế tự do của con người. Sự hạn chế tự do của con người còn được tạo ra bởi tư tưởng hay hệ thống các tư tưởng. Nói đến sự hạn chế tự do bằng hệ thống các tư tưởng chính là nói đến sự lộng hành của các khuynh hướng chính trị hay của các hệ tư tưởng trong đời sống xã hội.

Tư tưởng là công cụ của nhận thức, hệ tư tưởng là hệ thống các công cụ nhận thức. Đời sống tư tưởng là một trong những mảng quan trọng nhất cấu thành nên đời sống con người. Con người ai cũng có tư tưởng. Có tư tưởng sai và có tư tưởng đúng, sai hay đúng hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của mỗi người. Tư tưởng là kết quả của những đúc kết thực tiễn có tính chất lý luận nhằm phục vụ sự phát triển của cuộc sống chứ không phải là những tín điều để tôn thờ. Tư tưởng cũng như văn hoá có tính chất khách quan, nó là tất cả những gì xuất hiện một cách tự nhiên do nhu cầu nhận thức của con người.

Tôi cho rằng, hệ tư tưởng không phải là sản phẩm riêng của cộng đồng, thậm chí ngay cả trong một cộng đồng người thì tư tưởng cũng không phải là sản phẩm riêng của một thời đại. Hệ tư tưởng là sự tổng hoà những kinh nghiệm sống của nhiều cộng đồng người và của nhiều thời đại. Nhận thức về giá trị của hệ tư tưởng hoặc tập hợp tất cả các hệ giá trị chung chung hay tản mạn trở thành tiêu chí tư tưởng thường tập trung ở một số các cộng đồng người và vô tình tạo ra cái gọi là hệ thống triết học. Tôi cho rằng, con người với tư cách là một đối tượng của hành động luôn luôn cần có tư tưởng, nhưng các tư tưởng ấy có biến thành hệ giá trị để tạo ra hệ tư tưởng hay không thì còn tuỳ mỗi cộng đồng người, tuỳ quy mô phát triển. Người Trung Hoa chẳng hạn, trải qua mấy nghìn năm phát triển, tiếp cận với nhiều luồng tư tưởng, nhiều hệ tư tưởng. Họ chịu ảnh hưởng của Phật giáo, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo. Tất cả đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, con người càng giao lưu rộng bao nhiêu thì tính cởi mở trong việc xây dựng hệ tư tưởng hay trong việc xây dựng hệ giá trị chuẩn để phấn đấu càng lớn bấy nhiêu. Trung Hoa là một cộng đồng lớn, bản thân nó đã là một thế giới, nhưng do sự khép kín và không cởi mở về văn hoá nên sự thoái hoá của các hệ tư tưởng đã được địa phương hoá là một trong những yếu tố kéo lùi sự phát triển của dân tộc Trung Hoa.

Trong khi đó, ở châu Âu, các dân tộc xét về quy mô địa lý đều bé, nhưng đi từ Pháp, Italia sang Đức, chúng ta thấy cuộc cách mạng tôn giáo của họ có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn, hay nói cách khác là khát vọng và lòng dũng cảm giao lưu của các dân tộc càng lớn bao nhiêu thì sự đổi mới về tư tưởng càng nhanh và linh hoạt bấy nhiêu. Sự đổi mới các giá trị nhận thức, các mục tiêu nhận thức càng liên tục thì cái gọi là hệ tư tưởng càng trở nên phong phú, đậm nét và càng có giá trị.

Hệ tư tưởng không phải là cái đích, không phải là mục tiêu của các dân tộc mà là phương tiện của nhận thức. Vấn đề là ở chỗ con người đã có thời kỳ dài, trên một diện rộng, nhầm lẫn phương tiện với mục đích, người ta áp đặt hệ tư tưởng lên trên nhận thức của con người và tiêu diệt khả năng tự do nhận thức của con người. Đó là dấu hiệu nguy hiểm nhất của cái gọi là xây dựng cưỡng bức hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng làm cho con người đi theo một cái rãnh, đi theo một trật tự logic được phổ biến, tạo ra trạng thái bịt mắt con người có định hướng, tức là con người chỉ có một khuynh hướng để lựa chọn. Không chỉ dừng lại ở việc áp đặt một loại tư tưởng, người ta còn đem đối lập nó với các hệ tư tưởng khác, gây ra những sự xung đột không có thật. Họ quên mất rằng các hệ tư tưởng xuất hiện với cùng một mục tiêu là để phục vụ sự phát triển của các cộng đồng người. Các hệ tư tưởng bao giờ cũng chứa đựng các mục tiêu cụ thể của các cộng đồng khác nhau, các cộng đồng khác nhau xung đột về quyền lợi thì vô tình tạo ra sự xung đột về tư tưởng chứ bản thân các tư tưởng không xung đột. Đó là sự phản ánh sự xung đột về quyền lợi được mô phỏng như sự xung đột về tư tưởng.

Tôi luôn luôn cho rằng, tự do tư tưởng là một bộ phận của nền dân chủ nên nếu không có tự do tư tưởng thì không có dân chủ, và nhân dân hoặc là bị cưỡng bức, hoặc là bị lừa bịp. Tự do tư tưởng là một phần của dân chủ và là điều kiện của tự do nhận thức. Tư tưởng không phải là những thành lũy tinh thần bất khả xâm phạm, không phải là những tín điều để không ai dám nghĩ đến sự vứt bỏ. Tư tưởng không tránh khỏi sự lạc hậu theo quy luật tự nhiên. Tư tưởng là công cụ nhận thức để giúp con người tổ chức các hành vi của mình trong cuộc sống, khi tư tưởng không còn thích hợp nữa hay trở nên lạc hậu so với thực tiễn thì chúng ta chỉ nên giữ lại giá trị lịch sử của nó, tôn thờ công lao của nó ở những thời đại khác nhau của lịch sử. Nếu chúng ta không đủ sáng suốt để nhận ra giới hạn giá trị tương đối của các tư tưởng thì chúng ta sẽ mắc căn bệnh là lưu giữ quá lâu những kinh nghiệm trên thực tế cần phải bị thải hồi ra khỏi đời sống. Nếu chúng ta biến tư tưởng, biến công cụ nhận thức trở thành tín điều thì đấy là một trong những tội ác khủng khiếp. Nói cách khác, cần phải nhận thức tính giới hạn, tính thích hợp, tính phổ biến của tư tưởng. Khi xây dựng hệ thống triết học của mình, Marx đã nói rất rõ về quy luật phổ biến. Tính phổ biến của tư tưởng là điểm rất quan trọng, ở chỗ nào nhận thức có tính khu trú thì không thể thành hệ tư tưởng được bởi vì nó chỉ là những lý giải tạm thời, còn ở chỗ nào mà người ta thấy tính đúng đắn của hệ tư tưởng này hay tư tưởng kia ở những vùng đất khác nhau, những thời đại khác nhau thì ở đấy hệ tư tưởng có giá trị phổ biến.

Một khía cạnh nữa cần lên án là tính quá đát của hệ tư tưởng như là kết quả của tính bảo thủ hay là tính lười biếng của con người. Đằng sau tính lạc hậu tương đối của hệ tư tưởng so với sự phát triển của đời sống còn có sự lạc hậu của những kẻ sử dụng hệ tư tưởng như là cái đích của nhận thức. Con người thường có xu hướng bám vào các nguyên lý mà mình nhận thức được để làm tiêu chí, làm công nghệ cho hành động của mình. Do đó, con người không dám tiếp tục nhận thức chủ động. Sự bám giữ các hệ giá trị được xây dựng bởi hệ tư tưởng cũ tạo ra tính lạc hậu tương đối của hệ tư tưởng đối với sự phát triển của đời sống. Và điều này biến hệ tư tưởng trở thành một trong những tác nhân góp phần hạn chế sự phát triển thông qua việc kìm hãm nhận thức, kìm hãm tự do của con người.

Tôi đã nghiên cứu về sự khác biệt giữa tư tưởng của phương Đông và phương Tây, về sự chậm phát triển của phương Đông so với phương Tây và đi đến kết luận rằng phương Đông chậm phát triển hơn phương Tây là vì phương Đông bảo thủ hơn phương Tây, phương Đông lệ thuộc vào các tín điều hơn phương Tây. Phương Đông coi trọng tư tưởng như những khuôn vàng thước ngọc mang giá trị đạo đức còn phương Tây coi tư tưởng như là phương tiện của nhận thức và phát triển. Việc coi tư tưởng như là những tín điều làm phương Đông chậm thay đổi vì khi đó tư tưởng không còn là công cụ nhận thức mà trở thành công cụ trói buộc tự do nhận thức của con người, chính điều này làm cho phương Đông trở nên chậm phát triển. Thừa nhận tính bất biến của một loại lý luận, của một hệ tư tưởng chính là tước đoạt tự do của đời sống tư tưởng. Cần phải hiểu, tự do là phương tiện để phát triển mọi thứ kể cả lý luận. Địa vị bình đẳng của các lý thuyết, các khuynh hướng chính là tiền đề của tính đa dạng và phong phú của đời sống tinh thần của con người.

Đấu tranh và hợp tác là hai mặt của cuộc sống, sự thừa nhận có đấu tranh và hợp tác là thừa nhận có nhiều thành tố, nhiều yếu tố tham gia vào quá trình ấy, tức là thừa nhận tính đa dạng của cuộc sống. Khi người ta đưa nhà nước vào để chỉ đạo những yếu tố tham gia các quá trình ấy và quy định yếu tố A phải thắng là làm biến dạng cuộc sống. Một số người nghĩ rằng như vậy tức là sự đa dạng được kiểm soát bởi nhà nước, nhưng tôi thì không đồng ý như vậy. Rõ ràng, làm như vậy có nghĩa là người ta đã can thiệp vào các quy luật tự nhiên của cuộc sống để làm cho một yếu tố thắng một cách phi tự nhiên. Bằng cách thức đó, một số nhà nước đã tạo ra một sự cạnh tranh phi lành mạnh giữa các yếu tố, giữa các giá trị tinh thần tự nhiên của cuộc sống, đó là một trong những sai lầm cơ bản của sự lạm dụng vai trò của nhà nước.

Tôi cho rằng, nhà nước, chứ không phải là các đảng chính trị, phải là trọng tài khách quan cho việc tham gia đấu tranh và hợp tác giữa các yếu tố. Nhà chính trị khi đã tham gia vào hoạt động nhà nước thì chỉ được thực hiện các hoạt động đã được pháp chế hoá, còn những nhiệm vụ chưa được pháp chế hoá thì không được làm vì quá trình pháp chế hoá các nhiệm vụ chính trị là quá trình cực kỳ quan trọng, nó thể hiện bản chất dân chủ của một xã hội. Bản chất dân chủ của một xã hội không phải là bầu cử mà là quá trình pháp chế hoá các khuynh hướng, các nhiệm vụ chính trị. Nếu bất kỳ nhà cầm quyền nào, đảng chính trị nào thể hiện thất bại thì không được cầm quyền nữa. Chúng ta đều biết rằng cuộc sống hình thành bởi kết quả thắng một cách tự nhiên của các yếu tố trội, mọi âm mưu nhằm khống chế sự cân bằng tự nhiên của cuộc sống cuối cùng đều sẽ thất bại, bởi không gì có thể cưỡng bức sự phát triển tự nhiên của cuộc sống. Toàn bộ nghệ thuật cấu tạo ra nhà nước nằm ở chỗ địa vị của quyền lực đại diện cho các khuynh hướng xã hội khác nhau được thay thế nhau một cách hoà bình. Đó chính là một xã hội tiến bộ.

Nếu xã hội có một tầng lớp nào đó tự cho mình cái quyền hoạch định cấu trúc tinh thần, đạo đức, văn hoá, tư tưởng của cả xã hội thì đấy là biểu hiện công khai trên quy mô rộng lớn về sự thiếu dân chủ. Chúng ta đều biết rằng, dân chủ có những nguyên lý cơ bản của nó, dân chủ là kết quả của quá trình nhận thức, quá trình thoả thuận, quá trình cân đối giữa quyền lợi và nghĩa vụ của con người với nhau. Xây dựng xã hội dân chủ là xây dựng một xã hội ở đó con người được tạo điều kiện hoàn chỉnh mình và nhận thức được trách nhiệm của mình. Việc áp đặt con người đi theo một khuynh hướng tư tưởng không chỉ tước đoạt tự do và cảm hứng nhận thức mà còn tiêu diệt ý thức về nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mỗi người.

Vậy sự nô lệ của con người đối với các hệ tư tưởng của chính mình dẫn đến hệ quả gì? Đầu tiên, phải thấy rằng sự thống trị của các hệ tư tưởng đã nhổ rễ con người về mặt tinh thần, làm cho đời sống tinh thần của con người trở nên trống rỗng và thoái hoá, dẫn đến bị lệ thuộc hoàn toàn vào cách mô tả của người khác. Con người bị lôi cuốn, con người được giáo dục dựa trên sự mô tả của người khác thì sẽ hiểu cuộc sống thông qua sự mô tả ấy, và khi con người lệ thuộc vào sự mô tả thì con người là nô lệ, con người vẫn không có tự do. Nhiệm vụ của chúng ta là tạo ra con người tự do hay khôi phục lại trạng thái tự do của con người. Cần phải làm cho mỗi người hiểu rằng nếu chưa có tự do thì không phải là con người.

Khi con người đã theo một khuynh hướng thì họ mất đi rất nhiều năng lực, bởi vì họ không còn đủ điều kiện để bảo tồn sự đa dạng tinh thần để chuẩn bị cho sự phát triển của các loại năng lực khác. Khi con người chỉ đi theo một khuynh hướng duy nhất thì con người trở thành một loại tế bào đơn nhất cả về giá trị tinh thần, giá trị tư tưởng lẫn giá trị trí tuệ. Đó là biểu hiện của việc nhà nước hay quyền lực của nhà nước với tư cách là một đối tượng trung lập và sở hữu công cộng được sử dụng để tấn công lên con người. Hậu quả của nó là làm mất đi tính đa dạng tự nhiên của con người và của đời sống xã hội. Kết quả là con người không được chuẩn bị, không được rèn luyện để có được các năng lực đa chủng loại, và do đó không có những năng lực đáp ứng được đòi hỏi của thực tế. Chỉ ra sự áp đặt tư tưởng chính là chỉ ra bản chất sai lầm của giáo dục ở các nước chậm phát triển. Sự thống trị của bất kỳ hệ tư tưởng nào đều có nghĩa là bắt mọi người phải nhận thức giống nhau về vũ trụ, về cuộc sống, về con người, chính cái đó làm mất tính đa dạng sinh học của nhận thức của con người.

Nếu bị áp đặt về mặt tư tưởng thì chắc chắn là con người sẽ xây dựng tương lai một cách thụ động vì không có khả năng tổ chức ra đời sống tư tưởng, đời sống tinh thần của mình. Tôi không nói đến khái niệm tương lai với tư cách là một đối tượng tự nhiên, mà tôi muốn nói đến khái niệm tương lai như kết quả của những hoạch định, tức là một tương lai chủ động. Khi con người thoái hoá về mặt tinh thần thì cũng có nghĩa là mất đi ý chí và sự dũng cảm vươn tới trạng thái tự do về mặt tinh thần để hoạch định, để hưởng thụ tương lai chủ động của mình. Sự tan rã về mặt tinh thần làm cho con người không thấy tương lai chứ không phải chỉ có sự nghèo khổ làm cho con người không thấy tương lai. Tương lai luôn luôn là một bộ phận của những phần lành mạnh trong đời sống tinh thần của con người và mỗi một con người cần phải có cuộc sống lành mạnh về mặt tinh thần tức là có các gien của đời sống tương lai. Nếu ai không chủ động hoạch định tương lai của mình thì người đó trở thành một bộ phận tương lai của người khác hoặc là nhân chứng cho tương lai của người khác. Tại sao lại như vậy? Là vì con người nói chung khác các sinh vật khác ở chỗ nó có ý thức. Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của ý thức là hoạch định. Con người có nghĩa vụ hoạch định tương lai của mình, mà trên thực tế, ai cũng cố gắng hoạch định tương lai của mình và hoạt động cho các hoạch định đó. Cho nên con người càng có những hoạch định thực tiễn, càng cố gắng để thực hiện các hoạch định thì con người càng chủ động khi đến tương lai.

Trong một giai đoạn cụ thể mà xã hội cần phải nhất quán về mặt khuynh hướng để giải quyết một nhiệm vụ có chất lượng chiến lược thì việc tạo ra các khuynh hướng nhất quán có thể có ích, tuy nhiên vẫn là trái tự nhiên. Như đã nói, tư tưởng tạo ra trạng thái bịt mắt con người có định hướng, nhưng tới một thời điểm nào đó mà cuộc sống buộc phải rẽ thì những kẻ bị bịt mắt có định hướng không rẽ được và nó tạo ra rủi ro cho chính nó. Do vậy, tự do về tư tưởng hay không áp đặt về các hệ tư tưởng chính là tạo ra khả năng để con người chống lại sự rủi ro trong quá trình phát triển, trong quá trình diễn biến một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, hoàn toàn tự nhiên của cuộc sống. Hay nói cách khác, chống lại việc trói buộc vào các tiêu chuẩn giáo điều hoặc nhất quán của một hệ tư tưởng là nâng cao năng lực chống lại rủi ro. Nâng cao năng lực chống lại rủi ro phải bằng việc trả lại cho con người sự đa dạng tinh thần vốn có và vốn cần phải có.

Trên thực tế, có nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng có hệ tư tưởng của mình, nhưng đó không phải là kết quả của một người mà là của nhiều người, hay là kết quả của việc lựa chọn, sàng lọc tự nhiên những cái có lý trong tư tưởng của người khác. Có hai cách để làm như vậy là để cho con người tự do nghĩ và để cho con người tự do lựa chọn cách nghĩ đúng đắn của người khác. Montesquieu (1689-1755), đại biểu của triết học Khai sáng cho rằng "Tự do với ý nghĩa triết học, là được thực hiện ý chí của mình, hoặc ít ra là được nói lên quan niệm về thực hiện ý chí ấy" (Tinh thần pháp luật). Ở đây không được nhầm lẫn giữa năng lực tư tưởng và hệ tư tưởng. Nếu phổ biến thông tin một cách tự nhiên thì điều này thúc đẩy năng lực nhận thức và tạo ra năng lực tư tưởng. Năng lực tư tưởng của xã hội là cái cần phải phấn đấu, còn hệ tư tưởng là một hoặc một chuỗi các tư tưởng được tập hợp và truyền bá một cách khách quan trong đời sống xã hội. Trong cuộc sống có nhiều tư tưởng và các tư tưởng tương thích với nhau, tập hợp lại với nhau một cách rất tự nhiên thành một chuỗi các nhận thức được thừa nhận và loại bỏ một cách rất tự nhiên. Các nhà chính trị cần phải là những người có năng lực loại bỏ các tư tưởng đã lỗi thời. Cần phải thức tỉnh nhân loại, thức tỉnh mọi cá nhân rằng nhận thức là công việc của chính họ, nếu họ không nhận thức họ sẽ thua thiệt. Thay vì xây dựng hệ tư tưởng tôi cho rằng phải làm cho nhân dân có nhận thức đúng về cuộc sống, về sự phát triển để họ có thể tổ chức cuộc sống của chính mình. Nhà nước không phải là nơi tổ chức cuộc sống mà là nơi tổ chức các điều kiện để mọi người tự tổ chức ra cuộc sống của chính mình. Mỗi người tự tổ chức ra cuộc sống của mình thì cuộc sống chung sẽ được hình thành một cách tự nhiên, bền vững và tốt đẹp từ nền tảng đó.

Cuộc sống phát triển tự nhiên, con người tương thích với nhau một cách tự nhiên, con người hợp tác và đấu tranh với nhau một cách tự nhiên, nhà nước chỉ là nơi điều hoà những mặt cực đoan của hai quá trình ấy. Thế giới đang thay đổi cần phải mở rộng cho con người quyền tự do nhận thức tức là quyền tự do tư tưởng, từ đó họ sẽ có sản phẩm riêng của mình. Trong bối cảnh thế giới đã và đang phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay thì mỗi một con người ít nhất phải phấn đấu để trở thành nhà tư tưởng của chính hành động của mình. Chỉ khi đó con người mới làm chủ được tương lai, làm chủ được cuộc sống của mình.

Hệ tư tưởng đã từng đóng vai trò to lớn trong đời sống con người, nhưng đã đến lúc con người cần hiểu rằng sức cản lớn nhất đối với sự phát triển chính là con người tự trói mình vào các tín điều, giáo điều. Cần phải thay thế hệ thống tư tưởng, cần giải phóng con người để con người đo đạc lợi ích của chính mình bằng các tiêu chuẩn của hệ giá trị, tức là con người có quyền đo đạc lợi ích của mình mà không bị trói buộc vào các tín điều hay các chỉ dẫn của hệ thống tư tưởng. Điều đó cũng có nghĩa là con người phải nhìn nhận lợi ích thông qua hệ thống giá trị chứ không phải là hệ thống các tiêu chuẩn có tính chất tư tưởng.

Tự do không chỉ là một khái niệm liên quan đến các quyền, tự do còn là một khái niệm trong đó hàm chứa cả tính không lệ thuộc tự nhiên vào nhận thức của người khác. Việc lạm dụng tất cả các phương tiện truyền thông để tuyên truyền thái quá các quan điểm chuyên biệt chính là tạo ra các ranh giới ngăn cản, cô lập con người khỏi tự do.

3. Văn hoá

Văn hoá là môi trường tinh thần của con người nhưng nhiều nghiên cứu đã cho thấy, ở nhiều quốc gia chậm phát triển, văn hoá cũng là một trong những nhân tố chính góp phần trói buộc con người. Sự ràng buộc về văn hóa cũng làm giảm chất lượng tự do của con người và làm cho con người không đủ năng lực để thỏa mãn đòi hỏi của thời đại. Con người không bước ra khỏi các ranh giới văn hóa, các sự ràng buộc mang chất lượng văn hóa cũng là con người không tự do.

Nói đến sự kìm hãm của văn hoá đối với tự do của con người không thể không nói đến các nền văn hoá phi tự nhiên, mà thực chất là sự áp đặt chính trị. Chúng ta đều biết, văn hoá có tính đặc thù khách quan. Một nền văn hoá lành mạnh là một nền văn hoá hình thành một cách tự nhiên từ bản chất đa dạng của cuộc sống. Tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống tạo ra một sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khuynh hướng của cuộc sống và sau khi trải qua quá trình sàng lọc một cách tự nhiên, những khuynh hướng còn lại là những khuynh hướng hợp lý. Nếu con người áp đặt một khuynh hướng nào đó một cách tuyệt đối thì tức là đã tiêu diệt sự cạnh tranh giữa các khuynh hướng, cũng tức là tiêu diệt tính đa dạng của cuộc sống. Ở đâu các giá trị văn hoá được thể hiện một cách đa dạng hay các yếu tố tự nhiên của đời sống con người được tôn trọng và có vị trí bình đẳng, thì ở đấy văn hoá được hình thành một cách lành mạnh. Nền văn hoá đó chính là hệ quả của tự do hay là nền văn hoá tôn trọng tính đa dạng của đời sống tinh thần.

Ngược lại, một nền văn hoá không lành mạnh là nền văn hoá mà ở đấy người ta sử dụng công cụ nhà nước để áp đặt các giá trị, các tiêu chuẩn. Ở không ít quốc gia, nhất là những quốc gia chậm phát triển, nền văn hoá bị biến thành công cụ chính trị và bị thao túng cho những mục đích chính trị và hậu quả là nền văn hoá trở nên lạc hậu và không hỗ trợ sự phát triển. Ở các quốc gia này, hiện tượng can thiệp vào đời sống văn hoá của hệ thống chính trị là phổ biến. Phải khẳng định rằng, bất kỳ một lực lượng chính trị nào cũng muốn tham gia vào việc hình thành các thói quen văn hoá vì hơn ai hết, các nhà chính trị đều hiểu rõ rằng, văn hoá là công cụ điều chỉnh trên phạm vi rộng lớn nhất, mạnh mẽ và sâu sắc nhất đối với nhận thức và ứng xử của con người. Do đó, sự thao túng về mặt văn hoá sẽ tạo ra cơ sở cho sự ổn định trong hoạt động cầm quyền của các lực lượng chính trị.

Tham vọng đó, thực ra, cũng có thể hiểu được vì lực lượng chính trị nào cũng tuyên truyền, phổ biến thậm chí là áp đặt nhận thức chính trị của mình vào trong đời sống. Ví dụ Đảng Xanh xem môi trường là vấn đề chính trị, để tuyên truyền cho đảng của mình thì họ phải tuyên truyền các thói quen bảo vệ môi trường, biến thói quen tôn trọng môi trường trở thành các tiêu chuẩn văn hoá. Sự tuyên truyền trong trường hợp như vậy không phải là không lành mạnh vì điều đó là tất yếu. Tuy nhiên, người ta chỉ có thể đi theo, cổ vũ hay ưu tiên một khuynh hướng chứ không thể dành cho một khuynh hướng địa vị duy nhất bằng việc phủ nhận các khuynh hướng khác. Vì việc dành cho một khuynh hướng địa vị duy nhất sẽ làm biến mất tính đa khuynh hướng, hay tính đa dạng tự nhiên của văn hoá, mà xét về bản chất, chính là tiêu diệt tính đa dạng của đời sống tinh thần của con người. Nói cách khác, việc chính trị hoá văn hoá đã tiêu diệt yếu tố tự do trong văn hoá làm cho nền văn hoá trở nên khô cứng hay chết lâm sàng về mặt tinh thần.

Sự can thiệp vào văn hoá của các lực lượng chính trị sẽ ít tác dụng nếu như xã hội đó là xã hội đa khuynh hướng. Tính đa khuynh hướng thể hiện ở chỗ, có nhiều lực lượng chính trị cùng thể hiện những khuynh hướng chính trị khác nhau thông qua con đường văn hoá. Các hệ quả của việc tuyên truyền chính trị không đa dạng không phải là văn hoá mà chỉ là kết quả chính trị vì đến một lúc nào đó nó sẽ bị cuốn đi không chỉ bởi những khuynh hướng chính trị khác mà còn bởi thời gian vì sự lạc hậu của khuynh hướng mà nó tuyên truyền.

Chính trị cũng như văn hoá, đều là hệ quả của tự do. Tuy nhiên, chính trị là một hoạt động thuộc về thượng tầng kiến trúc tinh thần của con người nên chính trị chi phối toàn bộ hoạt động xã hội khác của con người. Nền chính trị tự do chính là điều kiện đảm bảo cho quá trình hình thành tự nhiên của văn hoá. Con người phải có tự do chính trị thì mới có tự do văn hoá. Một nền chính trị tự do, tức là tính đa dạng khuynh hướng của chính trị được đảm bảo, sẽ đảm bảo tính đa dạng cho nền văn hoá, đảm bảo cho nó được hình thành như là hệ quả của tự do và theo quy luật tự nhiên. Ngược lại, một nền chính trị mà không được đảm bảo bằng tự do, tức là không có sự đa dạng khuynh hướng chính trị, sẽ rất dễ phá vỡ quy luật hình thành tự nhiên của văn hoá. Các giá trị nội tại của một nền văn hoá luôn là chất xúc tác cho sự phát triển các giá trị cá nhân, tạo ra sự phát triển đa dạng của cộng đồng xã hội. Do đó, văn hoá khi bị thao túng vì những động cơ chính trị khác nhau sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển đa dạng của cuộc sống, tức là ngăn cản tự do của con người.

Sự phong phú trong nhận thức của con người chính là vũ khí quan trọng nhất giúp con người ứng phó với cuộc sống. Khi những người cầm quyền, bằng sức mạnh chính trị của mình, cố gắng tiêu diệt tính đa dạng của văn hoá, họ đã không hiểu rằng chính họ đang tiêu diệt tính đa dạng của cuộc sống mà tiêu diệt tính đa dạng của cuộc sống chính là làm cho con người "chết" ngay cả khi họ đang sống. Khi tác động vào văn hóa như vậy là họ đã tạo ra một nền văn hoá không lành mạnh, ở đó tính cá thể bị tiêu diệt và con người trở nên đơn giản đến mức hết thảy mọi người đều giống nhau và giống với một hệ tiêu chuẩn được định sẵn. Sự tôn trọng cá nhân trong trường hợp này được thay thế bằng sự tôn sùng chủ nghĩa tập thể. Con người, trước hết, phải là một cá thể và sự liên kết giữa những cá thể hoàn chỉnh mới tạo ra chủ nghĩa tập thể. Không thể có cái gọi là chủ nghĩa tập thể trong khi hết thảy những thành tố tạo ra nó đều không phải các cá thể. Cần phải thức tỉnh về trạng thái văn hóa phi tự nhiên này, nếu không, cái chúng ta có sẽ không phải là một chủ nghĩa tập thể chân chính mà là chủ nghĩa tập thể ngụy biện hay chủ nghĩa tập thể giả tạo.

Một nền văn hoá không lành mạnh sẽ làm cho con người trở nên cực đoan, cực đoan tới mức trở thành nô lệ về mặt tinh thần cho một con người hay một khuynh hướng nào đó. Xin được nhấn mạnh rằng, biến con người trở thành nô lệ, dẫu chỉ là nô lệ về mặt tinh thần, chính là huỷ hoại tính Người trong một con người. Tự do sinh ra con người, điều đó có nghĩa là con người cần có tự do khi nhận thức, con người cần cả tự do khi lựa chọn, bởi đó chính là biểu hiện quan trọng nhất của tự do, cũng chính là quyền quan trọng nhất của một con người.

Như vậy, văn hoá có thể là một lực cản lớn đến sự phát triển lành mạnh của con người thông qua việc ràng buộc tự do của con người. Những yếu tố cực đoan của văn hoá làm biến dạng sự hình thành của nhân cách và giá trị con người. Chính vì thế, khi nghiên cứu về cải cách văn hoá, chúng tôi đã đi đến kết luận là "Cải cách văn hoá không phải là thay đổi cấu trúc của văn hoá mà thay đổi thái độ của con người về nghĩa vụ đóng góp của văn hoá đối với đời sống và sự phát triển", tức là con người phải biết khai thác văn hoá, sử dụng văn hoá như một công cụ để bảo vệ sự hình thành các năng lực cũng như các giá trị của mình. Văn hoá có vai trò quan trọng như vậy nhưng từ xưa đến nay, người ta chỉ xem văn hoá như dấu hiệu của cái riêng mà không hiểu nghĩa vụ của nó là giải quyết những mặt lệch lạc của đời sống con người, quan trọng hơn là bảo vệ tự do của con người.

4. Sự nghèo đói

Không chỉ nhà nước, hệ tư tưởng, văn hóa, mà sự nghèo đói cũng là nhân tố hạn chế tự do của con người. Thế giới chưa bao giờ phát triển đồng đều và không bao giờ có thể phát triển đồng đều được, vì thế, sự khác biệt về phát triển là một thực tế khách quan và nó trở thành nguồn gốc hay nguyên nhân chính của nhiều vấn đề của loài người, trong đó có sự chênh lệch giàu nghèo. Sự nghèo đói và thiếu thốn cũng ràng buộc và hạn chế không gian tinh thần, không gian tự do của con người. Ví dụ, một người ở Trung Quốc muốn đến nước Mỹ tham quan nhưng không có tiền, sự không có tiền đã hạn chế tự do của anh ta đến nước Mỹ mặc dù không ai cấm, nhà nước không cấm, văn hóa không cấm, hệ tư tưởng cũng không cấm. Như vậy, chính sự hạn hẹp của các điều kiện vật chất đã hạn chế tự do của con người, kìm hãm con người vươn tới những khả năng thỏa mãn đòi hỏi của thời đại.

Nghèo đói là hệ quả tất yếu của sự chênh lệch tự nhiên của năng lực con người. Chênh lệch giàu nghèo về thực chất là biểu hiện kinh tế của chênh lệch năng lực; nói cách khác, tình trạng phát triển không đồng đều của các năng lực đã tạo ra hiện tượng phổ biến toàn cầu, hiện tượng có tính chất triết học đó là chênh lệch giàu nghèo. Nếu xã hội được hướng dẫn chính trị đúng thì vẫn tồn tại hiện tượng chênh lệch năng lực nhưng hiện tượng chênh lệch này chỉ giới hạn ở mức tự nhiên. Cho nên, sự tồn tại của nhà nước phúc lợi hay hoạt động phúc lợi của nhà nước vẫn là một thực tế. Trong cuốn sách "Cải cách và sự phát triển", tôi nói rằng cải cách về bản chất là tìm ra giới hạn hợp lý giữa sự tác động chủ quan của con người vào đời sống phát triển, tức là độ thấm tự nhiên của chính sách vĩ mô. Điều đó có nghĩa là, các nhà chính trị phải đủ tầm nhìn để nhận ra tác động hay hướng dẫn của họ đến đâu là đủ. Bởi vì nếu hướng dẫn sai thì sẽ tạo ra khoảng cách chênh lệch năng lực lớn hơn so với khoảng cách tự nhiên và đấy chính là bi kịch của sự chậm phát triển về mặt chính trị.

Sự nghèo đói là tất yếu khách quan ngăn cản con người với tự do. Khi các điều kiện về mặt vật chất không đảm bảo thì rõ ràng tự do của con người cũng không thể được đảm bảo. Người nghèo vẫn tồn tại từ xưa đến nay, nước nghèo vẫn tồn tại từ xưa đến nay và vì nghèo đói nên con người phải tìm cách thoát khỏi nó. Nhưng vấn đề là cho đến thế kỷ XXI mà một phần đông nhân loại vẫn sống ở mức nghèo khổ thì phải khẳng định đó là những con người sống kiếp nô lệ. Trạng thái nghèo đói là trạng thái nô lệ. Không bị bóc lột trực tiếp bởi những ông chủ nhưng con người bị bao vây bởi sự đói nghèo và bệnh tật, dẫn đến mất hết tự do và không thể vươn tới trạng thái phát triển được. Trạng thái nghèo đói đó chính là hệ quả của những trói buộc của nhà nước, của hệ tư tưởng và văn hoá đối với tự do của con người. Nó có quy mô rộng lớn nhất để duy trì trạng thái nô lệ hiện đại của con người đến mức ở không ít nơi, các nhà chính trị lợi dụng quy mô của sự nghèo đói để xem việc khắc phục nghèo đói là biện pháp chính trị duy nhất đúng và cần thiết để thực thi quyền con người. Tức là chỉ cần quyền không có nghèo đói là đủ, còn các quyền tự do khác được xem là ngăn cản quá trình khắc phục hiện tượng nghèo đói. Khi kết luận rằng nghèo đói là hệ quả tất yếu của sự thiếu các quyền tự do chính trị, quyền tự do văn hóa, quyền tự do tư tưởng thì có nghĩa là khắc phục nghèo đói chính là khắc phục sự thiếu tự do. Các nhà chính trị ở các nước lạc hậu cần phải hiểu điều đó. Sự thiếu tự do chính trị, thiếu tự do tư tưởng, thiếu tự do văn hóa làm cho con người không ra khỏi quá khứ của mình, không ra khỏi các thói quen của mình, đó là những nguyên nhân của sự không phát triển của một cá thể và do đó là nguyên nhân của sự nghèo đói. Đã đến lúc các nhà chính trị không thể tiếp tục nhân danh nghèo đói hay sử dụng nghèo đói như là một lý do để khất lần dân chủ được nữa.

Trong thế kỷ XX, thế giới bị chia thành hai phe dựa trên học thuyết về giàu nghèo và hình thành sự đối đầu của hệ tư tưởng giải thích thế giới, giải thích sự phân biệt giàu nghèo, hay là tìm lại quyền lợi cho người nghèo trên thế giới. Kết quả sự phân chia và đối đầu ấy là tạo ra cuộc Chiến tranh Lạnh trong nửa cuối thế kỷ XX. Chiến tranh Lạnh kết thúc bằng việc mất đi cách nhìn nhận phổ quát về cái gọi là cuộc đấu tranh giai cấp toàn cầu, nhưng sự giàu nghèo không vì sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh mà biến mất theo. Nhân loại vẫn đang tìm cách giải thích và một phần nào đó đang giải quyết vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Một số quốc gia nghèo đói phấn đấu để trở thành những quốc gia giàu có, nhưng cũng có những quốc gia giải quyết sự nghèo đói của mình bằng con đường khác. Có những dân tộc cam phận nghèo đói, không khủng bố, không đấu tranh. Nhưng có những dân tộc tìm cách thể hiện sự uất ức của mình đối với sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới bằng việc chống lại lợi ích của một số nước phát triển và cả lợi ích chung từ các quá trình hợp tác và cạnh tranh toàn cầu. Và thực tế này đã tạo ra chủ nghĩa khủng bố, nói cách khác, chênh lệch giàu nghèo là nguồn gốc của các cuộc phiêu lưu chính trị và tôn giáo này. Chủ nghĩa khủng bố lợi dụng hiện tượng phân biệt giàu nghèo nhưng được diễn ra dưới góc độ lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hoạt động được mệnh danh là đấu tranh cho các dân tộc nghèo đói.


Cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu đang diễn biến theo khuynh hướng là áp đặt vào nền dân chủ, áp đặt mô hình xã hội dân chủ đến những vùng đất không thích mô hình ấy. Điều này phản ánh bức tranh chính trị toàn cầu, đồng thời là cơ sở chính trị cho việc nghiên cứu trạng thái nô lệ hiện đại. Bản chất của trạng thái nô lệ hiện đại là việc tồn tại những khu vực chính trị mà ở đấy người ta không thừa nhận các tiêu chuẩn hay không thừa nhận sự tồn tại những đòi hỏi khách quan của con người về tự do và dân chủ. Đã là con người thì phải có tự do, tự do là quyền của con người, là năng lượng tạo ra đời sống con người, là bản chất tự nhiên của con người mà đã có tự do thì phải có thể chế để bảo vệ nó, đó là dân chủ. Ở đâu mà người ta còn nghi ngờ việc cần hay không cần tự do thì đấy là môi trường thuận lợi cho việc xác lập trạng thái chính trị lạc hậu làm tiền đề cho một xã hội nô lệ hiện đại.

Tôi cho rằng nhân loại buộc phải nhận thức, các nhà nước, các diễn đàn quốc tế buộc phải nhận thức đầy đủ những nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố. Một số quốc gia thiếu trách nhiệm hoặc là không có trách nhiệm luôn luôn cho rằng nếu không giải quyết được vấn đề chênh lệch giàu nghèo thì không thể chống được chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, họ không nhận ra rằng không bao giờ nhân loại có đủ điều kiện giải quyết vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Chênh lệch phát triển, chênh lệch giàu nghèo là một trong những bản chất tự nhiên của mọi quá trình phát triển. Con người sinh ra tự nhiên đã có những năng lực khác nhau vì thế không thể xoá được sự chênh lệch giàu nghèo, không thể giảm được hoặc còn rất lâu nữa mới giảm được khoảng cách hay sự chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, thế giới hoàn toàn có khả năng xóa đói, giảm nghèo dựa vào một tiêu chuẩn được thống nhất chung. Nói cách khác, cái mà con người cần chống lại không phải là sự phân hóa giàu nghèo mà là sự nghèo đói, nhân tố kìm hãm tự do của con người.

Hiện nay, tiêu chuẩn về nghèo đói trên thế giới chưa nhất quán, vì thế, các diễn đàn quốc tế cần phải có một thỏa thuận thống nhất về tiêu chuẩn nghèo đói và nhân loại cần phải cố gắng nâng cấp đời sống con người dựa theo tiêu chuẩn đó. Cần phải ý thức rất rõ nguồn gốc của sự nghèo đói và phải nghiên cứu những giải pháp để giải quyết căn bản vấn đề bởi dưới mức nghèo đói thì con người không còn là con người nữa, đó là trạng thái con người không tự do.

Sự chật vật tìm cách thoát khỏi nghèo đói của các nước chậm phát triển cho thấy bốn yếu tố kìm hãm tự do của con người có mối quan hệ hệ quả với nhau. Vậy đâu là yếu tố mấu chốt? Phải chăng đó là nhà nước? Nếu sự kìm kẹp tự do của nhà nước được gỡ bỏ thì có thể giảm thiểu tác động của ba yếu tố kia không? Tôi cho rằng, nhà nước không phải là tất cả và không phải là yếu tố quyết định bởi nếu con người không xác lập sự tự do tư tưởng của chính mình thì nhà nước mới trở thành nguy cơ duy nhất, nguy cơ có tính chất gốc. Con người càng dễ chấp nhận tình trạng lệ thuộc về mặt chính trị, tư tưởng thì càng đẩy nhà nước đến chỗ lộng hành và áp đặt. Cho nên, nếu con người không ý thức được việc trước hết mình phải tự giải phóng mình ra khỏi quá khứ nhận thức của mình là hệ tư tưởng, là sự ràng buộc của văn hoá lạc hậu thì nhà nước sẽ trở thành cơ cấu kìm kẹp.

Từ những phân tích về bốn yếu tố kìm hãm tự do của con người, chúng ta thấy nếu thừa nhận trạng thái chính trị là nhà nước sinh ra nhân dân và nhân dân phục vụ nhà nước thì cả bốn yếu tố trên đều là tất yếu, đúng hơn là tất yếu có điều kiện. Ba yếu tố nhà nước, hệ tư tưởng và văn hoá là tất yếu nhân tạo còn cái cuối cùng, sự nghèo đói, là tất yếu tự nhiên. Khi hội tụ đủ điều kiện là con người không tự do về tư tưởng, nhà nước không phải sinh ra để phục vụ con người và văn hóa chỉ là công cụ tinh thần để bảo trợ một thể chế chính trị lạc hậu thì nghèo đói là một tất yếu tự nhiên. Không một ai làm cho con người hết nghèo đói được, con người phải tự tạo ra sự không nghèo đói của mình, phải tự khắc phục hiện tượng nghèo đói của mình. Con người muốn tự khắc phục được sự nghèo đói của mình thì con người cần tự do vì tự do giải phóng mọi năng lực, tự do là tiền đề của mọi sự phát triển.


Xem tiếp Phần III. Khuyết tật của đời sống hiện đại (Sự tha hóa của cái Tôi, Tham nhũng, Bóc lột, Lộng hành)

Số lượt đọc:  2377  -  Cập nhật lần cuối:  14/04/2011 03:43:04 PM
  Trao đổi/Nhận xét Tổng số:  1
Hệ điều hành
Nguyễn Hải Hưng  - Email:  hungcinco01@yahoo.com   (22/07/2009 06:49:32 PM)
Nếu ví công ty như một tập con của nhà nước thì hẳn nhà nước cũng phải chứa đựng những nguyên tắc của công ty. Đó là việc thực thi những nội quy nhằm đem lại trật tự ổn định cho sự phát triển, nếu ở nhà nước là thực thi luật pháp phải rõ ràng và rành mạch. Thậm chí trong các công ty xuất sắc với những người điều hành giỏi còn phải nhận biết được các dấu hiệu tích cực, dấu hiệu tiêu cực có thể xảy ra tạo nên những hiệu ứng khác nhau. Vậy thì nhà nước có phải cũng cần những người như thế chăng? Họ phải có đủ hiểu biết được những vấn đề căn bản có thể nảy sinh ra những cái to lớn và dẫn đến khó kiểm soát nổi, từ đó mới có thể ngăn chặn "quyết liệt" làm cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.

Thực tế đấy mới chỉ là những cái cơ bản nhất nhằm duy trì sự rạch ròi hơn trong cuộc sống, bởi vì các công ty phát triển tiến bộ còn phải đem lại cho con người những niềm vui trong công việc, phải biết hướng dẫn, đào tạo bồi bổ người giỏi hợp lí và do đó họ con xây dựng nên các mô hình môi trường ngày càng gần hơn đến với những mục đích ấy. Nghĩa là cái tình cái lý thực chất phải rất rạch ròi, hoạt động phải công tâm, hướng đến tương lai phát triển.

Các công ty vì sự thích ứng với sự phát triển của thế giới cũng luôn có những mô hình phát triển khác nhau nhưng thực chất đều là sự kế thừa và phát huy thêm những cái mới. Thực tế trên thế giới những công ty ngày càng làm ăn giỏi lại là những công ty có nhiều người tài năng tụ hợp. Và quan trọng hơn cả ngày nay là khả năng thích nghi, khả năng "mở" luôn đón nhận những cái mới thiết thực đem lại sự thịnh vượng hơn nữa. Mỗi một sự thay đổi đều phải trải qua một quá trình, chỉ cần chúng ta tâm huyết đưa vào cuộc sống cái hay đẹp thì há chi chúng ta lại không xây dựng được một chu trình, một chiến lược tổng thể và riêng biệt và từng bước thực hiện nó.

Chỉ cần cam kết đem lại sự thịnh vượng và khắc phục những yếu kém trong hiện tại thì mọi chuyện hẳn đều có thể làm được.
  Ý kiến của bạn về bài viết: