Thursday, January 26, 2012

Tam đoạn luận nhà băng


Sent to you via Google Reader

Tam đoạn luận nhà băng

ĐÀO TUẤN Kết quả hoạt động kinh doanh của "giới nhà băng" cho thấy các Ngân hàng đang lãi khủng khiếp. Lợi nhuận trước thuế của Vietinbank đạt 8.105 tỷ đồng. Vietcombank 5.700 tỷ đồng; BIDV 4.243 tỷ đồng; Eximbank 4.056 tỷ đồng… Vì sao các ngân hàng vẫn lãi khủng trong năm mà sản [...]


Sent from my iPad

Monday, January 2, 2012

Rất nên quan tâm tới… lưu manh

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 

via Bauxite Việt Nam by bauxitevn on 1/1/12

Nguyễn Quang Lập

clip_image001

Mình đọc bài Rất nên quan tâm tới… lưu manh của bác Vương Trí Nhàn thấy vui vui. Bác Nhàn viết bài này vì việc giải thích của họa sĩ Phan Cẩm Thượng (ông này cũng giỏi) về sự biến nghĩa hai chữ đểu cảnglưu manh: "Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu".  Bác Nhàn nói lại với PCT về chữ lưu manh, manh không phải là mù, mà là "mắt không có con ngươi, tối tăm". Hi hi thì cũng như nhau chắc, dân mình gọi mấy kẻ mắt không có tròng đều là mù tuốt.

Nhưng có vẻ như bác Nhàn thiên về nghĩa bóng cái sự "mắt không có tròng" thì phải, bác tán  chữ lưu manh từ câu thơ của Nguyễn Trãi: "Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập"- (Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp) rồi bảo chữ manh là ở nghĩa ấy, hạng lưu manh "ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ "bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi', tức là kẻ không biết chính nghĩa là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa".

Bác viết:

"Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.

Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.

Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai".

Chết chết chết, bác phạm thượng quá, hi hi. Rồi đây thế nào cũng có người cãi bác chết thôi.

Nhưng điều này sẽ không ai cãi bác vì nó đúng, không những đúng mà quá đúng: "Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, thâm nhập vào các tầng lớp khác. Trong xã hội hiện đại, xu thế này chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm… tức là lưu manh hóa họ. Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung. Ở tầng lớp lưu manh khoác áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm".

Đấy là điều bác Nhàn cảnh báo "rất nên quan tâm đến lưu manh". Nếu cứ chủ quan khinh địch, cao ngạo coi thường, khinh nhờn chúng nó thì thế nào cũng có ngày bị chúng nó làm cho khốc hại. Đối với trí thức, không có gì nguy hiểm bằng lưu manh. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, trí thức ít ai chết vì hòn đạn mũi tên, toàn chết vì bọn lưu manh này thôi.

Hu hu cảm ơn bác Vương Trí Nhàn đã nhắc nhở.

N. Q. L.

Nguồn: quechoa.info


 
 

Things you can do from here:

 
 

Tình trạng bất ổn tại các nước dân chủ

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 

via Bauxite Việt Nam by bauxitevn on 1/2/12

(Tiến trình toàn cầu hóa và mối đe dọa đối với phương Tây)

Charles A. Kupchan, Foreign Affairs, January/February 2012

Trần Ngọc Cư dịch

Trong bài phát biểu đọc tại Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 17-11-2000, Tổng thống Bill Clinton đã ví xu thế toàn cầu hóa với các lực thiên nhiên như gió và nước trong cách lý giải sau đây:

"Chúng ta có thể dồn gió cho căng buồm. Chúng ta có thể dùng nước để tạo ra năng lượng. Chúng ta có thể cố gắng chống lại bão và lũ lụt để bảo vệ nhân dân và tài sản. Nhưng chúng ta chẳng thể nào phủ nhận sự hiện hữu của gió và nước, hoặc tìm cách loại chúng. Xu hướng toàn cầu hoá cũng thế. Chúng ta có thể nỗ lực để tối đa hoá cái lợi của nó và giảm thiểu những rủi ro, nhưng chúng ta không thể làm ngơ trước xu hướng này và nó cũng sẽ không tự biến mất". (trích bản dịch của TTXVN).

Đúng vậy. Trong hai thập kỷ qua, tiến trình toàn cầu hóa đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các nước đang phát triển vươn lên, vì tiến trình này đã trải rộng tổng số của cải trên thế giới và "hội nhập hàng tỉ công nhân lương thấp vào hệ thống kinh tế toàn cầu" (Kupchan). Cùng với xu thế toàn cầu hoá, sự ra đời của công nghệ thông tin đã trang bị một số nước đang phát triển "đôi hài vạn dặm" để vươn lên nhanh chóng, nổi bật nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Brazil, Hồi Quốc, Nam Phi... Tiến trình toàn cầu hoá đã chuyển sức mạnh kinh tế từ trung tâm quyền lực truyền thống là các cường quốc phương Tây sang các vùng phụ biên của thế giới.

Trong bài tiểu luận sau đây, Giáo sư Charles A. Kupchan đã kết luận rằng tiến trình toàn cầu hóa đã từng bước lấy mất quyền kiểm soát của các cường quốc phương Tây trên các vấn đề quốc tế, đồng thời gây ra tình trạng bất ổn và bất bình đẳng nghiêm trọng trong các xã hội dân chủ. Các chính phủ dân chủ hàng đầu phương Tây đang lâm vào một cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia.

Như vậy, làn sóng toàn cầu hóa đã tạo ra tình trạng bên lở - bên bồi. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại và đánh giá tình hình là người Việt Nam chúng ta đã thu hoạch những gì, và thu hoạch bao nhiêu trong vận hội mới do tiến trình toàn cầu hóa mang lại, trước khả năng lịch sử có thể sang trang trong tương lai. Vì tiến trình nào cũng có giai đoạn thoái trào của nó: có bắt đầu thì phải có kết thúc. Điều đáng báo động là, đối diện với khủng hoảng kinh tế và chính trị trong nước, thậm chí các chính phủ dân chủ tự do tiên tiến nhất cũng phải tính đến các đường lối dân túy chủ nghĩa (populist approaches): nhúng tay vào việc hoạch định kinh tế và bảo hộ mậu dịch để phục vụ quyền lợi bức thiết của các khối cử tri rộng lớn, nếu các chính phủ này không muốn thấy sự lan rộng của các phong trào quần chúng nổi dậy, mà màn giáo đầu có thể là Phong trào Chiếm Phố Wall. Đây cũng là cảnh báo quan trọng mà học giả Kupchan đã đưa ra trong bài viết của mình, và chúng ta như một quốc gia đang thụ hưởng thành quả của kinh tế toàn cầu thiết tưởng cũng nên suy nghĩ về viễn cảnh đó.

Bauxite Việt Nam

Một cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia đang trùm phủ lên các chế độ dân chủ tiên tiến nhất thế giới. Chẳng phải tình cờ mà Mỹ, châu Âu, và Nhật Bản đang đồng thời trải qua một tình trạng suy sụp chính trị; tiến trình toàn cầu hóa đang mở ra một khoảng cách ngày càng lớn giữa những gì mà các khối cử tri đang đòi hỏi từ chính phủ của họ và những gì mà các chính phủ ấy có thể đáp ứng được. Sự so le giữa việc người dân ngày càng đòi hỏi một khả năng điều hành quốc gia tốt đẹp và việc chính phủ ngày càng bất lực trong việc cung ứng khả năng ấy là một trong những thử thách nghiêm trọng nhất của thế giới phương Tây hiện nay.

Cử tri tại các nước dân chủ công nghiệp hóa đang kỳ vọng chính phủ của họ giải quyết các vấn đề liên quan đến sự sa sút trong mức sống và tình trạng bất bình đẳng kinh tế ngày một gia tăng do sự luân lưu hàng hóa, dịch vụ, và vốn diễn ra ở mức độ chưa từng thấy trên toàn cầu. Họ cũng trông chờ các vị đại biểu của mình giải quyết các vấn đề nổi cộm như việc nhập cư của người nước ngoài, tình trạng hâm nóng địa cầu, và các hệ quả thứ yếu khác của một thế giới toàn cầu hoá. Nhưng các chính phủ phương Tây không đủ khả năng chu toàn nhiệm vụ ấy. Tiến trình toàn cầu hóa đang lấy mất những lợi thế chính sách của những chính phủ này, đồng thời làm suy giảm sự thống trị truyền thống của phương Tây trên các vấn đề quốc tế, vì tiến trình này đã tạo điều kiện cho "phần còn lại của thế giới vươn lên". Sự bất lực của các chính phủ dân chủ trong việc đáp ứng các nhu cầu của đại chúng do đó đã gia tăng sự bất mãn của người dân, làm suy yếu thêm tính chính danh và hiệu năng của các định chế đại nghị.

Cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia trong phạm vi thế giới phương Tây đã diễn ra đặc biệt không đúng thời điểm. Toàn bộ hệ thống quốc tế đang kinh qua một biến chuyển tái tạo (tectonic change) do sự phân tán của cải và quyền lực đến những khu vực mới. Tiến trình toàn cầu hóa lẽ ra phải làm lợi cho các xã hội tự do, những xã hội được cho là phù hợp nhất trong việc vận dụng tính nhanh nhạy và linh động của thị trường toàn cầu. Nhưng thay vì vậy, nhiều khối quần chúng ở những nước dân chủ tiên tiến tại Bắc Mỹ, châu Âu, và Đông Á đang gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề – chính vì các nền kinh tế của những nước này vừa hết hạn kỳ (không thể phát triển thêm được nữa) vừa mở ra với thế giới bên ngoài.

Trái lại, Brazil, Ấn độ, Hồi Quốc, và các nước dân chủ đang trỗi dậy khác hiện đang hưởng lợi nhờ sự chuyển dịch sinh lực kinh tế từ thế giới phát triển sang thế giới đang phát triển. Đặc biệt Trung Quốc (TQ) đang tỏ ra khôn khéo trong việc gặt hái những lợi ích của việc toàn cầu hóa trong khi hạn chế được những thiệt hại do nó mang lại – một phần không nhỏ là vì TQ đã giữ quyền kiểm soát những công cụ chính sách mà các đối thủ tự do không chịu dùng đến. Chủ nghĩa tư bản nhà nước có những lợi thế rõ ràng, chí ít trong giai đoạn hiện nay. Do đó, không những chỉ có ưu thế vật chất của phương Tây đang bị đe dọa, mà sức hấp dẫn của phiên bản về tính hiện đại phương Tây cũng bị thử thách. Nếu các chế độ tự do dân chủ không thể phục hồi khả năng thanh toán các vấn đề chính trị và kinh tế hiện nay (political and economic solvency), thì quyền lực chính trị và địa chính trị của Thế kỷ 21 rất có thể bị nhiều thế lực khác nhau giành giựt.

NHỮNG BẤT AN

Tiến trình toàn cầu hóa đã trải rộng toàn bộ của cải của thế giới và giúp các nước đang phát triển đạt được sự phồn thịnh chưa từng có. Sự gia tăng nhanh chóng số lượng đầu tư, mậu dịch, và các mạng lưới giao thông đã làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia (interdependence) và các hệ quả có tiềm năng ổn định tình hình. Xu thế toàn cầu hóa cũng buộc các quốc gia phi dân chủ phải mở cửa và vì thế nó có thể thúc đẩy các cuộc nổi dậy của dân chúng. Nhưng đồng thời, việc toàn cầu hóa và nền kinh tế thông tin (digital economy) mà nó dựa vào là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia hiện nay tại phương Tây. Xu hướng giảm công nghiệp hóa (deindustrialization) và đưa công việc ra nước ngoài (outsourcing), thương mại toàn cầu và bất quân bình ngân sách, vốn thặng dư và tín dụng và bong bóng đầu tư – những hậu quả này của xu thế toàn cầu hóa đang áp đặt lên xã hội phương Tây nhiều gian khổ và bất an mà nhiều thế hệ gần đây chưa từng trải qua. Tình trạng khốn khổ phát xuất từ cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008 là đặc biệt gay gắt, nhưng những vấn đề cơ bản đã phát xuất sớm hơn nhiều. Trong phần lớn hai thập kỷ qua, đồng lương của giai cấp trung lưu tại các nước dân chủ hàng đầu trên thế giới đã bị giữ ở mức cố định, và tình trạng bất bình đẳng kinh tế đã và đang gia tăng gay gắt, đồng thời xu thế toàn cầu hóa đã tưởng thưởng hậu hĩ những người thành công và để lại đằng sau nhiều người thất bại.

Những xu thế này không phải là phó sản tạm thời của một chu kỳ thương nghiệp (the business cycle), chúng cũng không chủ yếu do việc chính phủ thiếu điều tiết trong khu vực tài chính, hay do việc giảm thuế giữa hai cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan, hay do những chính sách sai lầm khác. Như các nhà phân tích kinh tế Daniel Alpert, Robert Kockett, và Nouriel Roubini đã tranh luận gần đây trong tác phẩm nghiên cứu của họ The Way Forward (Con đường phía trước), thì đồng lương trì trệ và tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng là hậu quả của việc hội nhập hằng tỉ công nhân lương thấp (low-wage workers) vào nền kinh tế toàn cầu và việc gia tăng năng suất nhờ áp dụng công nghệ thông tin vào khu vực sản xuất. Những phát triển này đã đẩy năng suất toàn cầu cao hơn mức đòi hỏi quá xa, gây tổn thất nặng nề cho công nhân tại các nền kinh tế trả lương cao (high-wage economies) của thế giới công nghiệp. Tình trạng xáo trộn và bất mãn của nhiều khối cử tri phương Tây do việc toàn cầu hóa đã được khuếch đại bởi cường độ gia tăng của những mối đe doạ xuyên quốc gia, nạn khủng bố, việc nhập cư bất hợp pháp, và nạn xuống cấp môi trường – vốn là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa. Cộng thêm vào mối phức tạp xấu xa này là cuộc cách mạng thông tin; Internet và sự tràn ngập các phương tiện thông tin đại chúng hình như đang làm gia tăng tình trạng phân cực ý thức hệ hơn là bồi dưỡng các cuộc thảo luận có ý nghĩa.

Các cử tri đứng trước sức ép kinh tế, xáo trộn xã hội, và chia rẽ chính trị đang hướng về các vị đại diện dân cử để tìm sự giúp đỡ. Nhưng, xu thế toàn cầu hóa càng thúc đẩy đòi hỏi bức thiết là chính phủ phải đáp ứng nguyện vọng người dân bao nhiêu, thì chính xu thế này cũng đảm bảo rằng sự đáp ứng đó là bất cập bấy nhiêu. Các chính phủ tại các nước công nghiệp phương Tây đã đi vào một giai đoạn thiếu hiệu quả rõ rệt, vì ba lý do chủ yếu sau đây:

Một là, xu thế toàn cầu hóa đã biến những công cụ chính sách truyền thống từng được sử dụng bởi những nước tự do dân chủ thành những công cụ cùn cụt hơn trước nhiều. Washington thường xuyên vận dụng chính sách ngân sách và tiền tệ để điều chỉnh hoạt động kinh tế. Nhưng trước cuộc cạnh tranh toàn cầu và một núi nợ chưa từng thấy, nền kinh tế Mỹ có vẻ gần như trở thành miễn dịch đối với các lượng tiền chi tiêu để kích thích kinh tế hay đối với những động thái mới nhất của Quĩ Dự trữ Liên bang [Ngân hàng Trung ương] về lãi suất. Phạm vi rộng lớn và tốc độ nhanh chóng của các lưu lượng thương mại và tài chính toàn cầu có ý nghĩa rằng các quyết định và các biến chuyển ở những nơi khác là quan trọng hơn những quyết định của Washington – như thái độ ngoan cố của Bắc Kinh về đồng Nhân dân tệ, phản ứng chậm chạp của châu Âu đối với cuộc khủng hoảng tài chính tại đó, hành vi của giới đầu tư và các cơ quan thẩm định giá trị, hoặc sự gia tăng phẩm chất các kiểu xe mới nhất của hãng Hyundai. Các nước dân chủ châu Âu qua một thởi gian lâu dài từng dựa vào chính sách tiền tệ để thích nghi với các thay đổi bất thường trong hoạt động kinh tế. Nhưng họ đã từ bỏ lựa chọn ấy khi họ gia nhập khu vực đồng euro. Nhật Bản trong hai thập kỷ vừa qua đã thử nghiệm chiến lược này đến chiến lược khác để kích thích kinh tế, nhưng vô hiệu. Trong một thế giới toàn cầu hóa, giản dị là, các quốc gia dân chủ không còn khả năng kiểm soát các hậu quả như trước.

Hai là, nhiều vấn đề mà các khối cử tri phương Tây đang đòi hỏi chính phủ của mình giải quyết cần đến một mức độ hợp tác quốc tế nào đó, nhưng đây là điều không thể thực hiện. Sự tản mác quyền lực từ phương Tây sang phần còn lại của thế giới có nghĩa là ngày nay có nhiều đầu bếp mới trong nhà bếp; một hành động có hiệu quả không còn chủ yếu tùy thuộc vào sự cộng tác giữa các quốc gia dân chủ có cùng một ý thức hệ. Thay vào đó, nó tùy thuộc vào sự hợp tác giữa một số quốc gia đông đảo hơn và đa dạng hơn. Hiện nay, Mỹ đang hướng về nhóm G-20 để tái quân bình nền kinh tế thế giới. Nhưng rất khó đạt được một sự đồng thuận giữa các quốc gia đang ở vào những giai đoạn phát triển khác nhau và đi theo những đường hướng điều hành kinh tế khác nhau. Những thách đố như nỗ lực chặn đứng tình trạng hâm nóng địa cầu hay cô lập Iran một cách có hiệu quả trong một cách thế tương tự sẽ tùy thuộc vào nỗ lực tập thể, nhưng khả năng này hoàn toàn nằm ngoài tầm vói.

Ba là, các nước dân chủ có thể hành động gọn nhẹ và đáp ứng nhu cầu của dân chúng khi các khối cử tri tại đó cảm thấy thỏa mãn và đạt được một sự đồng thuận phát sinh từ những kỳ vọng lớn lao, nhưng các nước này sẽ trở nên lúng túng và chậm trệ khi người dân của họ đâm ra bi quan và chia rẽ. Các chính thể trong đó sự điều hành quốc gia tùy thuộc vào sự tham gia của dân chúng, sự kiểm soát và quân bình lẫn nhau giữa các định chế, và sự tranh đua giữa các nhóm lợi ích tỏ ra khôn khéo trong việc phân phối các quyền lợi hơn là việc chia đều sự hi sinh. Nhưng hi sinh chính là điều cần thiết để phục hồi khả năng thanh toán kinh tế (economic solvency) – nhằm thoát ra mạng lưới nợ nần hiện nay. Sự kiện này buộc các chính phủ phương Tây phải đối diện với một viễn tượng khó nuốt là theo đuổi những chính sách có nguy cơ làm suy yếu khả năng thu hút cử tri.

MỘT VẤN ĐỀ, BA SẮC THÁI

Tại Mỹ, sự đối đầu giữa hai đảng đang làm tê liệt hệ thống chính trị. Nguyên nhân cơ bản là tình trạng thảm hại của nền kinh tế Mỹ. Từ năm 2008, nhiều người Mỹ đã mất nhà, mất công ăn việc làm, và tiền tiết kiệm hưu trí. Tất cả những thất bại này diễn ra tiếp theo sau nhiều thập niên liên tiếp đồng lương của giới trung lưu đứng yên một chỗ. Trong 10 năm qua, mức thu nhập bình quân hộ gia đình tại Mỹ đã sút giảm trên 10%. Trong khi đó, tình trạng bất bình đẳng lợi tức đang tăng lên nhanh chóng, biến Hoa Kỳ thành nước có mức chênh lệch giàu nghèo gay gắt nhất trong thế giới công nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu tạo ra tình cảnh sa sút của người công nhân Mỹ là sự cạnh tranh toàn cầu; công ăn việc làm của họ nối đuôi nhau đi ra nước ngoài. Thêm vào đó, nhiều công ty có sức cạnh tranh nhất trong nền kinh tế thông tin điện tử (digital economy) không có cánh dù đủ rộng để bao che một số lượng công nhân to lớn. Công ty Facebook được định giá khoảng 70 tỉ USD, nhưng nó chỉ mướn khoảng 2.000 nhân viên; trong khi đó, công ty General Motors, được định giá khoảng 35 tỉ USD nhưng có đến 77.000 nhân viên tại Mỹ và 208.000 trên thế giới. Sự giàu có của các công ty có sức cạnh tranh hàng đầu của Mỹ hiện nay không nhỏ giọt xuống cho giới trung lưu nước này.

Những thực tế kinh tế khắc nghiệt đang làm sống lại những phân hóa mang tính đảng phái và ý thức hệ từ lâu đã im ắng nhờ những vận hội kinh tế phồn vinh của quốc gia trước đây. Trong những thập niên sau Thế chiến II, một sự phồn vinh được chia sẻ rộng rãi đã thu hút các chính trị gia Dân chủ lẫn Cộng hòa vào vị trí trung tâm của sinh hoạt chính trị. Nhưng ngày nay, Quốc hội Mỹ gần như thiếu hẳn những người chủ trương ôn hòa ở trung tâm sân khấu chính trị và thiếu hẳn tinh thần cộng tác giữa hai chính đảng; phía Dân chủ vận động đòi hỏi thêm tiền để kích thích kinh tế, cứu trợ người thất nghiệp và tăng thuế người giàu, trong khi đó phía Cộng hòa đòi hỏi triệt để cắt giảm kích cỡ và sự chi tiêu của chính phủ. Việc khoét rỗng trung tâm chính trị Mỹ đang diễn ra nhanh chóng là do việc phân chia lại các đơn vị bầu cử theo tinh thần đảng phái, do một môi trường truyền thông kích động nhiều hơn thông tin, và do một hệ thống vận động tài chính tranh cử băng hoại đang bị các nhóm lợi ích nắm giữ.

Tình trạng phân cực chính trị do những nguyên nhân trên đang trói chặt nước Mỹ. Tổng thống Barack Obama đã nhận thức được tệ trạng này, đó là lý do tại sao ngay từ khi nhậm chức ông đã hứa sẽ trở thành một vị tổng thống "hậu-đảng phái" (a "postpartisan" president). Nhưng sự thất bại trong những nỗ lực tốt đẹp nhất của Obama nhằm hồi sinh nền kinh tế và phục hồi sự hợp tác lưỡng đảng đã phơi bày tính cách hệ thống của sự rối loạn kinh tế và chính trị tại quốc gia này. Gói kích thích kinh tế 787 tỉ USD của Obama, được thông qua không có sự hậu thuẫn của một dân biểu Cộng hòa nào tại Hạ viện, đã không hà hơi tiếp sức được cho một nền kinh tế vốn bị băng hoại vì nợ nần, vì thiếu công ăn việc làm cho giai cấp trung lưu, và vì cuộc suy thoái toàn cầu. Từ khi đảng Cộng hòa giành được đa số tại Hạ viện vào năm 2010, sự đối đầu của hai đảng đã cản trở sự tiến bộ gần như trên mọi vấn đề. Các dự luật nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc là không được thông qua hoặc là bị sửa đổi đến mức không gây được tác dụng đáng kể. Các dự luật để cải tổ vấn đề nhập cư và để hạn chế tình trạng hâm nóng địa cầu thậm chí không được đưa lên chương trình nghị sự.

Việc điều hành quốc gia yếu kém, kết hợp với liều lượng xung khắc đảng phái hàng ngày, đã đẩy sự tán thành của dân chúng đối với Quốc hội xuống mức thấp nhất trong lịch sử. Sự thất vọng đều khắp của dân chúng đã sản sinh Phong trào Chiếm Phố Wall (the Occupy Wall Street movement) – gồm một loạt các cuộc biểu tình chống đối kéo dài của dân chúng lần đầu tiên diễn ra kể từ thời Chiến tranh Việt Nam. Sự bất mãn của cử tri chỉ làm sâu sắc thêm những thách đố trong việc điều hành quốc gia, khi những chính trị gia vì thấy mình thất thế phải nhắm vào những lợi ích hẹp hòi của cơ sở đảng phái, vì thế hệ thống chính trị quốc gia mất luôn cả sức đẩy nhỏ nhoi.

Trong khi đó, cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành tại châu Âu mang dạng thức của một cuộc tái quốc gia hóa (renationalization) nền chính trị tại đó. Nhiều bộ phận dân chúng châu Âu đang nổi lên chống lại cuộc xáo trộn kép gây ra do tiến trình hợp nhất châu Âu và xu thế toàn cầu hóa. Hậu quả là, các nước thành viên EU (Liên minh châu Âu) đang bận rộn đấu tranh giành lại những quyền lợi chủ quyền của mình, do đó có thể gây nguy cơ cho dự án hợp nhất chính trị và kinh tế châu Âu được khởi động sau Thế chiến II. Cũng như tại Mỹ, tình hình kinh tế là gốc rễ của vấn đề. Trong hai thập kỷ qua, mức thu nhập của giai cấp trung lưu trong hầu hết những nền kinh tế quan trọng của châu Âu liên tục giảm sút và tình trạng bất bình đẳng ngày một gia tăng. Tỉ số thất nghiệp tại Bồ Đào Nha lên trên 20%, và thậm chí tại Đức, nền kinh tế hàng đầu của EU, giai cấp trung lưu bị thu nhỏ 13% kể từ năm 2000 đến 2008. Những kẻ sa cơ thất thế thấy mình đang rơi xuống trên một tấm lưới an toàn đã sờn rách; các hệ thống an sinh êm ái của châu Âu, không còn đứng vững trước sức cạnh tranh toàn cầu, đang bị cắt xén nhanh chóng. Tình trạng khắc khổ phát sinh từ cuộc khủng hoảng nợ nần trong khu vực đồng euro chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ thêm. Người Hy Lạp phẫn nộ về chính sách thắt lưng buộc bụng mà khối EU thực thi bao nhiêu, thì người Đức lại giận dữ về việc họ phải cứu giúp các nước đình đốn kinh tế tại châu Âu bấy nhiêu.

Dân số đang già nua của châu Âu đã khiến việc nhập cư của người nước ngoài trở thành một tất yếu kinh tế (an economic necessity). Nhưng sự trì trệ của người di dân Hồi giáo trong việc hội nhập vào dòng chính của xã hội châu Âu đã gia tăng sự bất bình của người bản xứ đối với thái độ sốt sắng của EU trong việc thu nhận thêm người nước ngoài vào xã hội của họ. Những đảng chính trị cực hữu đã khai thác mối lo âu này, và chủ nghĩa dân tộc gay gắt của họ không những chỉ nhắm vào người nhập cư mà còn nhắm vào cả EU nữa. Sự thay đổi thế hệ đang làm giảm bớt nhiệt tình của dân chúng đối với việc hợp nhất châu Âu. Những người châu Âu với ký ức kinh hoàng về Thế chiến II coi EU như một lối thoát của châu Âu để tránh xa dĩ vãng đầy máu lệ của nó. Nhưng những thế hệ châu Âu trẻ trung hơn thì không có dĩ vãng nào cần phải trốn chạy. Trong khi những vị trưởng lão coi dự án châu Âu như một niềm tin tưởng, thì các nhà lãnh đạo hiện nay và các khối cử tri lại muốn thẩm định EU xuyên qua một sự đánh giá lạnh lùng – và đôi khi tiêu cực – dựa trên lợi và hại.

Việc điều hành một chính quyền tập thể mà EU rất cần đến để thành công trong một thế giới toàn cầu hóa không nhận được hậu thuẫn của các phong trào chính trị đường phố, một xu thế rõ ràng đang trở nên xung khắc với dự án châu Âu. Các định chế của châu Âu có khả năng xuống cấp ngang với mức độ của chính trị châu Âu, điều này sẽ có hệ quả là biến EU thành một khối mậu dịch không hơn không kém. Một khả năng khác là, chính trị quốc gia của từng nước thành viên có thể một lần nữa lại khoát lên mình một sứ mệnh châu Âu, điều này sẽ thở một luồng khí chính danh mới mẻ vào một liên minh đang ngày càng rổng ruột. Hậu quả của khả năng thứ hai là tốt đẹp hơn nhiều, nhưng nó đòi hỏi tài lãnh đạo và quyết tâm, nhưng hiện nay những yếu tố này không biết tìm đâu cho thấy.

Về phần mình, Nhật Bản cũng đang phiêu dạt về chính trị kể từ khi Junichiro Koizumi thôi chức thủ tướng vào năm 2006. Sau đó, Đảng Tự do Dân chủ (ĐTDDC), một đảng từng khống chế chính trường Nhật Bản suốt gần hết thời hậu chiến, đã thất bại thảm hại, nhường quyền cho Đảng Dân chủ Nhật Bản (ĐDCNB) vào năm 2009. Việc củng cố một hệ thống lưỡng đảng (a two-party system) tưởng có tiềm năng cải thiện việc điều hành quốc gia nhưng thay vì vậy đã chỉ tạo ra bế tắc chính trị và làm mất niềm tin của dân chúng. Nhật Bản trải qua sáu đời thủ tướng trong vòng 5 năm. Mùa hè vừa qua, mức hậu thuẫn của dân chúng dành cho ĐDCNB đứng ở 18%. ĐDCNB và ĐTDDC bị chia rẽ nội bộ gay gắt cùng với mức độ hai đảng hiện đang kèn cựa lẫn nhau. Việc hoạch định chính sách bị bế tắc trên mọi vấn đề khẩn cấp; phải mất hơn 100 ngày Quốc hội Nhật Bản mới có thể thông qua đạo luật cung cấp cứu trợ cho nạn nhân của cuộc động đất, sóng thần, và thảm họa hạt nhân xảy ra năm ngoái.

Vấn đề bắt đầu diễn ra với việc Nhật Bản vỡ bong bóng tài sản năm 1991, một bước thụt lùi đã phơi bày nhiều vấn đề còn sâu sắc hơn trong nền kinh tế quốc gia và dẫn đến một "thập kỷ mất mát" vì nạn suy thoái kéo dài. Các nhà sản xuất Nhật Bản chịu nhiều thiệt hại, khi công việc và tiền đầu tư chuyển sang Trung Quốc và "các con hổ châu Á". Khế ước xã hội truyền thống của Nhật Bản, theo đó các tập đoàn doanh nghiệp cung cấp việc làm suốt đời và lương hưu thoải mái, không còn đứng vững được nữa. Hai thập kỷ vừa qua đã mang lại một sự suy giảm đáng kể trong mức thu nhập của giới trung lưu, tình trạng bất bình đẳng kinh tế gia tăng, và tỉ lệ nghèo đã tăng đột biến từ 7% trong những năm 1980 lên 16% trong năm 2009. Trong năm 1989, Nhật Bản đứng hàng thứ tư trên thế giới về GDP đầu người; vào năm 2010, GDP đầu người của Nhật Bản rơi xuống hạng 24.

Chính vì để đối phó với những vấn đề này mà Koizumi đã lao vào những nỗ lực đầy tham vọng nhằm tự do hóa nền kinh tế và giảm bớt quyền lực của giới quan liêu và các nhóm lợi ích. Sức hấp dẫn của cá nhân ông và hậu thuẫn mạnh mẽ của Quốc hội đã tạo được tiến bộ có ý nghĩa, nhưng những kẻ kế vị thuộc ĐTDDC cũng như ĐDCNB tỏ ra quá yếu kém, không đủ sức thúc đẩy tiến trình đi tới. Vì thế Nhật Bản lâm vào tình trạng thiếu lãnh đạo, rơi vào nguy cơ chịu những xáo trộn của một nền kinh tế toàn cầu chưa được tự do hóa hay đủ tính chiến lược cho một sự cạnh tranh hữu hiệu.

CHÉN THUỐC ĐẮNG

Không phải tình cờ mà cuộc khủng hoảng khả năng điều hành quốc gia tại phương Tây đã xảy ra trùng hợp với sức mạnh chính trị mới mẻ của các cường quốc đang trỗi dậy; sinh lực kinh tế và chính trị đang chuyển từ trung tâm ra vùng biên của hệ thống quốc tế. Và trong khi những quốc gia cởi mở nhất thế giới đang kinh qua tình trạng mất quyền kiểm soát khi hội nhập vào một thế giới toàn cầu hóa, các quốc gia phi tự do, như Trung Quốc, đang cố tình kìm hãm xã hội chặt chẽ hơn xuyên qua việc hoạch định chính sách bằng đường lối trung ương tập quyền, kiểm soát phương tiện truyền thông, và thị trường được nhà nước giám sát. Nếu các nước dân chủ hàng đầu tiếp tục mất đi ánh quanh vinh trong lúc các nước đang phát triển phác thảo hướng đi lên của mình, thời kỳ quá độ đang diễn ra của quyền lực toàn cầu sẽ gây thêm nhiều bất ổn đáng kể. Ngược lại, một cuộc tái liên kết theo trật tự phân hạng quốc tế sẽ diễn ra thứ tự hơn nếu các nước dân chủ phương Tây lấy lại tư thế của mình và cung ứng một sự lãnh đạo có ý nghĩa.

Điều mà chúng ta cần đến không gì khác hơn là một câu trả lời bức thiết mang tính cách thể kỷ 21 đối với những căng thẳng cơ bản giữa dân chủ, chủ nghĩa tư bản và toàn cầu hóa. Nghị trình chính trị mới mẻ này phải nhắm vào việc tái xác quyết quyền kiểm soát của người dân đối với kinh tế chính trị (political economy), điều khiển hành vi nhà nước hướng tới việc đáp ứng có hiệu quả những thực tại kinh tế của thị trường toàn cầu lẫn những đòi hỏi của xã hội đại chúng về việc phân chia công bình các phần thưởng và các hi sinh.

Phương Tây phải theo đuổi ba chiến lược tổng quát nhằm đáp ứng thách thức này và vì thế phải trang bị các định chế dân chủ của mình hữu hiệu hơn để đối phó một thế giới toàn cầu hóa. Một là, khi phải đối đầu với chủ nghĩa tư bản nhà nước và sức mạnh to lớn của các thị trường toàn cầu, các nước dân chủ phương Tây không còn cách nào khác hơn là phải nhúng tay vào việc hoạch định kinh tế chiến lược trên một qui mô chưa từng có. Việc đầu tư do nhà nước lãnh đạo sẽ rất cần thiết trong các lãnh vực như việc làm, cơ sở hạ tầng, giáo dục, và nghiên cứu để phục hồi sức cạnh tranh kinh tế. Hai là, các nhà lãnh đạo phải tìm cách chuyển hướng sự bất mãn của cử tri vào các mục đích cải tổ xuyên qua một dạng thức tiến bộ của chủ nghĩa dân túy (a progressive brand of populism). Bằng cách theo theo đuổi những chính sách làm lợi cho đại chúng hơn là phục vụ các đảng viên trung kiên và các lợi ích đặc biệt, những nhà chính trị không những lấy lại được lòng dân mà còn tạo lại sinh lực cho những cơ chế dân chủ và phục hồi giá trị của bổn phận công dân và đức tính hy sinh. Ba là, các chính phủ phương Tây phải đưa các khối cử tri của mình ra khỏi sự cảm dỗ của xu thế hướng nội. Lịch sử đã chứng minh, những giai đoạn kinh tế khó khăn có thể nhen nhúm chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch (protectionism) và chủ nghĩa cô lập (isolationism).

Không một chiến lược nào được nêu ra ở trên là dễ thực hiện. Việc theo đuổi toàn bộ những chiến lược này cùng một lúc sẽ đòi hỏi một tài lãnh đạo phi thường và một thái độ can đảm chính trị tương xứng. Nhưng bao lâu mà một nghị trình như thế chưa được thiết kế và thực hiện, thì tình trạng bất ổn của các nước dân chủ phương Tây vẫn còn tồn tại.

C. A. K.

Charles A. Kupchan là Giáo sư Quốc tế Sự vụ tại Đại học Georgetown và là Nhà nghiên cứu Thâm niên tại Council on Foreign Relations, một viện nghiên cứu chính sách tại Mỹ. Bài tiểu luận sau đây phỏng theo cuốn sách sắp xuất bản của ông, nhan đề No One's World: The West, the Rising Rest, and the Coming Global Turn (Thế giới không của riêng ai: phương Tây, phần còn lại đang trỗi dậy và biến chuyển toàn cầu sắp tới), do Oxford University Press xuất bản năm 2012.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.


 
 

Things you can do from here:

 
 

Friday, December 16, 2011

Thể chế với sự thịnh vượng của quốc gia

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 

via Bauxite Việt Nam by bauxitevn on 12/15/11

PGS.TS.Trần Văn Tùng*

clip_image001

Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế.

Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới yếu tố địa lý, văn hoá, các thành tố dẫn đến việc hình thành các động cơ kinh tế và một số cơ may có được từ một số xã hội.

Thể chế kinh tế

Có giả thiết cho rằng sự khác biệt về thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản của các mẫu hình khác nhau trong tăng trưởng kinh tế. Cốt lõi của giả thiết này dựa trên luận điểm cách thức con người tổ chức xã hội của họ quyết định xã hội đó có thịnh vượng hay không. Một cách tổ chức xã hội khuyến khích mọi người đổi mới, chấp nhận rủi ro, tiết kiệm cho tương lai, học tập, giải quyết những vấn đề chung và cung cấp các hàng hoá công cộng… là một xã hội đạt tới mức thu nhập cao hơn. Ngược lại với cách tổ chức này thì xã hội đó sẽ rơi vào tình cảnh nghèo đói.

Ý tưởng về sự phồn vinh của một xã hội phụ thuộc vào các thể chế kinh tế, ít nhất đã được Adam Smith đề cập trong các cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương và vai trò của thị trường, và nổi bật hơn với luận điểm xã hội thành công về kinh tế khi họ có được thể chế kinh tế tốt. Chúng ta có thể cho rằng, thể chế kinh tế tốt bao gồm một số các sự vật có liên quan đến nhau. Đó là, quyền sở hữu phải được thực thi trên diện rộng trong một xã hội, để cho tất cả các cá nhân có cơ hội đầu tư, đổi mới công nghệ và các đổi mới đó tham gia vào các hoạt động kinh tế, có một mức độ hình đẳng về xã hội (kể cả bình đẳng trước pháp luật), ngăn chặn người có quyền lực thâu tóm các cơ hội đầu tư.

Một loại hình khác của thể chế kinh tế là thị trường. Các quan điểm truyền thống của các nhà sử học về tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh tới sự lan toả của thị trường, đại diện tiêu biểu của những quan điểm này là Pirenne (1937). Các mô hình về bẫy nghèo đói của Acemoglu (1995,1997), của Murphy và Shleifer (1989), dựa trên ý tưởng cho rằng thị trường không hoàn hảo có thể dẫn đến sự tồn tại của điểm cân bằng tối ưu Pareto. Kết quả là một quốc gia có thể gặp khó khăn trong một trạng thái cân bằng Pareto kém, gắn liền với nghèo đói. Nhưng để nhận ra bẫy nghèo đói, đòi hỏi phải có sự hợp tác các hoạt động mà thị trường không cung cấp. Các nghiên cứu được  khởi xứng bởi Banerjee và Newman (1993), Glor và Zeira (1993) dựa trên ý tưởng thị trường không hoàn hảo, vấn đề phân phối của cải cho những người có cơ hội đầu tư, cùng với việc phân phối thu nhập sai lệch thì xã hội đó sẽ bị mắc kẹt trong nghèo đói, nói khác đi là rơi vào bẫy nghèo đói.

Các lý thuyết này đưa ra một số mô hình thú vị về động cơ mong muốn phụ thuộc vào hành vi của một nhóm người khác hoặc phân phối của cải cho một nhóm người nào đó khi mà thị trường không hoàn hảo. Tuy nhiên, cấu trúc của thị trường là nội sinh, và được xác định bởi quyền sở hữu. Một khi cá nhân có quyền sở hữu an toàn và bình đẳng trước các cơ hội, động cơ sẽ tồn tại để tạo ra và cải thiện thị trường (mặc dù rất khó đạt tới một thị trường hoàn hảo). Vì vậy, sự khác biệt về thị trường là một kết quả của các hệ thống khác nhau về quyền sở hữu và thể chế chính trị tạo nên sự khác biệt giữa các nước về hoạt động kinh tế. Như vậy, vấn đề trọng tâm của thể chế kinh tế là những nội dung có liên quan tới việc thực thi các quyền sở hữu trên diện rộng trong các nhóm xã hội, tạo ra sự khác nhau về thu nhập.

Yếu tố địa lý

Trong khi các lý thuyết thể chế nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố do con người tạo ra, để hình thành các động cơ thì một lý thuyết khác lại tập trung vào vai trò tự nhiên có nghĩa là môi trường vật chất và vị trí địa lý. Trong bối cảnh hiểu biết về sự khác biệt giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tế, cách tiếp cận này nhấn mạnh tới sự khác biệt địa lý, khí hậu, sinh thái quyết định các sở thích và cơ hội của từng tác nhân kinh tế ở các xã hội khác nhau. Phương pháp tiếp nhận này gọi là giả thuyết địa lý. Hiện tại, có ít nhất ba phiên bản về giả thuyết địa lý, mỗi giả thiết nhấn mạnh một cơ chế khác nhau của yếu tố địa lý ảnh hưởng thế nào tới sự thịnh vượng của một quốc gia.

Thứ nhất, khí hậu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định tới nỗ lực làm việc, động cơ và năng suất. Nhiệt độ quá cao, làm cho cơ thể giảm sức mạnh. Vì vậy, sự kiệt sức sẽ làm giảm tinh thần hăng say, giảm sức sáng tạo, thậm chí làm cho con người không còn rộng lượng với nhau. Thực tế cho thấy con người ở xứ lạnh táo bạo và dũng mạnh hơn. Một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng là Marshall đã cho rằng thể chất phụ thuộc phần nào vào chất lượng của chủng tộc, một phần khác quan trọng hơn là phụ thuộc vào khí hậu.

Thứ hai, địa lý là yếu tố quyết định cho công nghệ phát triển tại một xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp. Khi bắt đầu của thời kỳ tăng trưởng kinh tế hiện đại, công nghệ của các vùng ôn đới có năng suất cao hơn so với vùng nhiệt đới. Khẳng định của nhà kinh tế học Sachs (2001) cũng giải thích sự chinh phục ồ ạt của người Châu Âu vào Châu Mỹ là do sự khác biệt về công nghệ. Châu Âu truyền thống là nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghệ trong nông nghiệp nhằm vào mục tiêu cung cấp thực phẩm. Tiến bộ công nghệ đã giúp cho Châu Âu khai phá các vùng đất mới tại các quốc gia Bắc và Nam Mỹ trong các thế kỷ trước.

Thứ ba, các giả thuyết địa lý đặc biệt phổ biến trong thập kỷ qua, liên quan tới gánh nặng bệnh tật. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Châu Phi cận Sahara, HIV đang làm giảm tốc độ tăng trưởng của Châu Phi.

Yếu tố văn hoá

Nghiên cứu nổi bật nhất về quan hệ giữa văn hoá và phát triển là của Weber (1930), ông lập luận rằng, nguồn gốc của công nghiệp hoá ở Tây Âu, xuất phát từ cải cách đạo Tin Lành. Theo quan điểm của ông, nhóm niềm tin về thế giới trong đạo Tin Lành, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đạo Tin Lành, nhấn mạnh tới ý tưởng của lý thuyết định mệnh ở chỗ, một số cá nhân được Chúa chọn và được ưu ái, trong khi những người khác thì không, và một phần của nhân loại được cứu rỗi, còn phần khác thì bị nguyền rủa. Những ai được chọn, còn ai thì không? Weber đã giải thích điều này là do thuyết định mệnh. Đạo Tin Lành dẫn đến một tập hợp các niềm tin, trong đó nhấn mạnh tới thành công về kinh tế là nơi phù hợp với sự lựa chọn của Chúa. Nếu so sánh với Đạo Tin Lành thì Công giáo và các tôn giáo khác thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển yếu hơn. Đạo Tin Lành khoan dung hơn với sự đổi mới.

Gần đây Landes (1998), cũng cho rằng nguồn gốc của sự thống trị kinh tế của phương Tây là do có một tập hợp tín ngưỡng về thế giới, và họ biết cách chuyển các niềm tin đó thành nỗ lực của con người. Ý tưởng về văn hoá ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bởi tôn giáo. Thường thì các nghiên cứu độc lập cố gắng giải thích sự phát triển là do các đặc điểm văn hoá ban đầu của một quốc gia, chủng tộc. Thí dụ, Mỹ Latinh nghèo bởi vì áp dụng di sản của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, trong khi Bắc Mỹ thịnh vượng là do áp dụng di sản Anglo-Saxon của nó. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu khác về nhân chủng học lập luận rằng, các xã hội có thể trở nên năng động khác thường với hoàn cảnh là do họ có một hệ thống niềm tin và cách thức hoạt động để phát huy thành công, tiến tới thịnh vượng. Ngược lại, các xã hội không thích nghi với hoàn cảnh thì rơi vào nghèo đói. Thí dụ, người nghèo ở vùng miền Nam nước Italia do chịu ảnh hưởng niềm tin vào các thành viên gia đình và từ chối hợp tác với người khác. Những xã hội như thế là thiếu hụt vốn xã hội. Mối tương quan giữa xã hội và tăng trưởng kinh tế là chặt chẽ, cùng chiều. Mức độ chặt chẽ khác nhau tạo ra các tỷ lệ tăng trưởng khác nhau.

Thể chế chính trị dân chủ và tăng trưởng

Quan điểm trung tâm cho rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên các thể chế chính trị dân chủ, và các thể chế đó vận hành có hiệu quả dưới chế độ dân chủ. Thể chế này bao gồm chế độ pháp quyền, bảo vệ quyền sở hữu, tự do cá nhân nhằm phát huy sáng tạo năng lực hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ... Trong công trình nghiên cứu của Iqbal, Jong-Ilyou (2001), tiến hành khảo sát 115 quốc gia trong thời kỳ 1960 – 1980 đã cho thấy các nước có mức độ chính trị dân chủ, mở cửa cao, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2,5 – 3%, so với mức tăng trưởng 1,4% của những nước có nền kinh tế thiếu dân chủ và đóng cửa với bên ngoài.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng kinh tế đã được một số tác giả tập trung nghiên cứu, dựa vào các yếu tố về pháp quyền, chế độ chính trị tác động tích cực đến mức nào tới tăng trưởng. Đại diện tiêu biểu nhất lý giải cho mối quan hệ này là North (1990). Theo ông thì pháp quyền được hiểu là quyền lực tối cao của định chế pháp luật, được củng cố nhờ bộ máy tư pháp độc lập thường là tam quyền phân lập, và thiết chế quan trọng để bảo đảm các quyền sở hữu. North cho rằng, các thiết chế dân chủ phải được xem là một phần của cơ sở chính trị pháp quyền. Hoạt động của thể chế dân chủ sẽ bảo đảm cho cạnh tranh chính trị công bằng hơn và không cho phép thế lực chính trị nào giành được quyền lực hơn để áp đảo thế lực khác. Nghiên cứu của ông đã đi đến kết luận rằng, thứ nhất thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng. Thứ hai, những nước có thể chế chính trị dân chủ và quyền tự do dân sự có lợi cho phát triển kinh tế. Thứ ba, những thành quả kinh tế đạt được to lớn hơn là do có môi trường kinh tế tự do hơn. Các kết luận này đã giúp cho các tổ chức quốc tế đưa ra một số giải pháp giúp đỡ cho các nước nghèo. Theo quan điểm của các tổ chức này, ưu tiên hàng đầu không phải là đẩy mạnh cải cách dân chủ ngay tức thì mà phải cải cách các thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Không nên hy vọng quá nhiều vào cải cách chính trị, do đó cải cách chính trị theo hướng dân chủ phải được tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế. Nhiều nước quá vội vàng thực hiện cải cách chính trị đã thất bại trong cải cách kinh tế, thí dụ là nước Nga trong đầu thập niên 1990 dưới thời Eltsin làm tổng thống.

Các bằng chứng hiện tại

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giả thuyết thể chế kinh tế khác nhau tạo ra tỷ lệ tăng trưởng khác nhau và mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau.

Dựa vào chuỗi số liệu trong thời kỳ 1985-1995 về thu nhập bình quân đầu người và số liệu về quyền sở hữu chống lại rủi ro do quốc hữu hoá hoặc xung công. Các nước có quyền sở hữu an toàn (nghĩa là có thể chế kinh tế tốt hơn) sẽ có thu nhập bình quân đầu người cao hơn. Thí dụ đầu tiên về những thử nghiệm rõ ràng nhất về thể chế là trường hợp Hàn Quốc (Nam Triều Tiên).

Trước khi đi theo hai con đường phát triển khác nhau thì Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều chung một nguồn gốc văn hoá. Bắc Triều Tiên được thiên nhiên ưu đãi hơn về tài nguyên có các mỏ than trữ lượng lớn, vonfram, kẽm, magie, sắt, đường, vàng, muối, thuỷ điện… Hàn Quốc cũng có một số khoáng sản. Nếu so sánh thì thấy rằng cả hai đều có cùng khả năng về vị trí địa lý và tiếp cận thị trường, chi phí vận tải, nhưng về bất cứ phương diện gì khác thì Bắc Triều Tiên vẫn vượt trội hơn. Thí dụ, đã đạt tới trình độ công nghiệp hoá tương đối khi các công ty Nhật Bản mở rộng hoạt động trên miền Băc. Điển hình là nhà máy thuỷ điện trên sông Yalu lớn thứ hai thế giới lúc đó do tập đoàn Suiho xây dựng. Nippon Chisso, một tổ hợp hoá chất lớn thứ hai thế giới cũng hoạt động trên Bắc Triều Tiên, ngoài ra Chongjin là một cảng lớn trên biển Nhật Bản cũng ở đất Bắc. Mặc dù, miền Bắc có một số tiềm năng, Maddison (2001), ước tính rằng tại thời điểm chia cắt thì hai miền đều có mức thu nhập tương đương nhau. Nhưng đến cuối thập niên 1960 Hàn Quốc trở thành nền kinh tế thần kỳ ở châu Á, một quốc gia nổi lên nhanh nhất về sự thịnh vượng tại Đông Á, trong khi đó Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng kinh tế trì trệ. Năm 2000 thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 18.000USD, trong khi Triều Tiên là 1.000USD, tương đương với mức thu nhập của các quốc gia Châu Phi cận Xahara.Hàng triệu người thiếu đói lương thực.

Có thể lãnh đạo Kim Nhật Thành và các cộng sự của ông tin rằng các chính sách kinh tế theo mô hình Xô Viết tốt hơn cho đất nước. Tuy nhiên, những năm 1980 đã cho thấy các chính sách kinh tế của Chính phủ Triều Tiên là không hiệu quả. Tiếp tục đi theo đường lối kinh tế này, theo Acemoglu (2009) là do các nhà lãnh đạo muốn duy trì quyền lực và lợi ích riêng của mình mà quay lưng với lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Khi mà thể chế kinh tế chỉ phục vụ cho một nhóm người có quyền lực thì hầu hết các quốc gia đi theo mô hình thể chế đó đều có kết cục thất bại.

Hàn Quốc đã áp dụng thể chế kinh tế thị trường tự do cùng với quá trình dân chủ hóa đã đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ ở mức cao, hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, nhanh chóng trở thành quốc gia có nền công nghiệp hiện đại. Nhiều ngành công nghiệp như điện tử, ô tô, đóng tàu, hóa dầu… có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.

Nền văn minh duy nhất đáng lẽ có thể vượt qua châu Âu là Trung Quốc. Bảng liệt kê danh sách các phát minh của Trung Quốc khá dài như la bàn, giấy và mực in, kỹ thuật in, thuốc nổ, dệt lụa, sành sứ, xe ngựa... Vào thế kỷ 12, công nghiệp dệt của Trung Quốc đã vượt xa nước Anh, luyện thép tại Trung Quốc đã biết sử dụng than đá. Nhưng lịch sử công nghiệp hoá của Trung Quốc là những bước lùi do không có công nghệ mới. Bởi vì, Trung Quốc thiếu vắng thị trường tự do, nhà nước luôn can thiệp vào thị trường và hoạt động kinh doanh của tư nhân. Thứ hai, nhà nước đã cấm đoán nhiều hoạt động kinh tế, thao túng giá cả, tham nhũng và không muốn để cho tư nhân làm giàu. Thứ ba, cung cách làm việc theo kiểu truyền thống, bóp chết sáng kiến, làm tăng các chi phí giao dịch, loại bỏ các tài năng về công nghệ và kinh doanh khỏi lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Không có một biểu hiện nào của đời sống công cộng thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước, thể chế chính trị mất dân chủ đã ngăn chặn quá trình phát triển của Trung Quốc.

T. V. T.

* Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Acemoglu, Daron (2009), Modern Economic Growth, Princeton Iniversity Press.

2. Acemoglu, Daron (1995), Reward Structures and the Allocation of Talent, European Economic Review, 39, 17-33

3. Acemoglu, Daron (1997), Training and Innovation in an Inperfect Labor Market, Review of Economic Studies, 64, 445-464

4. Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James A. Robinson (2002), Reversal of Fortune: Geography and Institutions in the Making of Modern World Incom Distribution, Quarterly of Journal of Economics 118, 1231-1294

5. Banerjee, Abihyit and Adrew F. Newman (1993), Ocupational choice and the Process of Development, Journal of Political Economy 101,274-198

6. Davis, Ralph (1973), The Rise of the Atlantic Economics, Cornell University Press

7. Galor Oded and Joseph Zeina (1993), Income Distribution and Macroeconomics, Review of Economic Studies 40, 35-52

8. Greif, Avner (1994), Cultural Beliefs and the Organization of Society, Journal of Political Economy 102, 912-950

9. Iqbal, Jong – Ilyou (2001), Democracy, Market Economics and Deverlopment: An Asian Perspctive, World Bank Press.

10. Knack, Steven and Philip Keefer (1997), Does Social capital have an Economic Impact? A cross – Country Investigation? Quarterly Journal of Economics 112, 1252-1288

11. Landes, Davids (1998), The wealth and The Poverty of Nations: Why some are so rich and some so poor, Norton & Co, New York

12. Maddision, A17. Maddision, Angus (2001), The world Economy: A Millenial perspective, OECD Paris

13. Murphy, Kevin J, Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1989) Industrialization and the Big Push, Journal of Political Economy, 97, 1003-1026

14. North, Douglas (1990), Institution, Instutution change, and Economic performance, Cambridge University Press

15. Pirenne, Henri (1937), Economic and Social History of Medieval Europe, New York, Brace & Co Press.

16. Trần Văn Trùng (2003), Quan hệ giữa thiết chế dân chủ với tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11-2002

17. Tân tử Lăng (2007), Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, NXB Thư tác Phường Hồng Kông. Thông tấn xã Việt Nam xuất bản.

18. Weber, Max (1930), The protestal Ethic and the Spirit of Capitalism, Allen and Unwin, London.

Nguồn: tiasang.com.vn


 
 

Things you can do from here:

 
 

Thursday, December 8, 2011

“Xã hội tự do và xã hội sợ hãi”

Natan Sharansky

TMK:Tính viết một cái note về các khái niệm “xã hội thần dân” và “xã hội công dân” đã dùng trong hai loạt bài “Chuyện hiến pháp” và “Chuyện giáo dục”, sực nhớ hồi xưa có dịch một chương của cuốn “The case for democracy” của Natan Sharansky, “Xã hội tự do và xã hội sợ hãi”. Lục trong hard disk và post lại ở đây để tham khảo khi trình này hai khái niệm kia.

Xã hội Việt Nam trong những năm đầu của thập niên thứ hai của thể ký này đã đi một đoạn đường khá xa. Nó không còn là một xã hội sợ hãi giống như xã hội Stalin mà Sharansky miêu tả. Nhưng phải mất một thời gian dài và đòi hỏi nhiều ý chí nữa trước khi có thể gọi nó là một xã hội tự do. Tương tự, xã hội dân sự ở Việt Nam, ít nhất là với khái niệm, đã bắt đầu hình thành. Nhưng đoạn đường từ xã hội thần dân đến với xã hội công dân còn xa.

Chúng ta thường liên hệ một xã hội tự do với một số quyền căn bản nào đó. Tuy nhiên không một xã hội nào những quyền tự do này là tuyệt đối. Ở Mỹ chẳng hạn, nơi mà các quyền tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng được coi là bất khả xâm phạm, người ta không có quyền tự do để la hoảng “cháy!” trong một nhà hát đông người, hoặc chế độ đa thê được cho phép nhân danh niềm tin tôn giáo. Trong khi những thảo luận về giới hạn thích hợp nào đó của các quyền tự do có thể là những đề tài tranh luận thú vị trong các xã hội dân chủ, những thảo luận này không làm sáng tỏ được sự khác biệt nền tảng giữa một xã hội dựa trên tự do và một xã hội dựa trên sự sợ hãi.

Sự khác biệt này được nhận diện bởi những người chắc chắn phải biết rõ về đề tài này: những nhà bất đồng chính kiến Xô viết. Trong nhà tù Gulag, có nhiều loại tù nhân chính trị khác nhau: quân chủ – những người vẫn tha thiết phục hồi chế độ Nga hoàng cũ đã bị quét sạch trong cuộc cách mạng Bolshevik, những người quốc gia Ukrain đang đấu tranh để giành lại nền độc lập cho quê hương của họ sau hơn 300 thống trị của Nga, những người Pentecostal đấu tranh cho quyền tự do tín ngưỡng, những người cộng sản Âu Châu đang cố gắng một cách vô vọng để khoác một bộ mặt “nhân tính” lên chế độ cộng sản Xô viết, những người Do Thái khước từ chế độ và muốn di dân như tôi, và nhiều người khác nữa.

Trong sự đa dạng của những ý kiến khác biệt của các tù nhân chính trị này, chúng tôi đồng ý với nhau một điều: Tất cả chúng tôi đều muốn sống trong một xã hội tự do! Và bất chấp những mâu thuẫn có thể có giữa chúng tôi về một viễn cảnh nào đó cho tương lai, kinh nghiệm bất đồng chính kiến đã cho phép chúng tôi đồng ý với nhau về một định nghĩa của tự do: Một xã hội là tự do nếu người dân trong xã hội đó có quyền được bày tỏ quan điểm của mình mà không sợ bị bắt giam, bị tù đày, hoặc bị hành hung.

Mỗi tù nhân chúng tôi hình dung về một tương lai mà trong đó những quan tâm của mình là tối thượng, nhưng bất kể sự cuồng nhiệt đến mức nào đi nữa của những ước vọng riêng biệt này, tất cả những người bất đồng chính kiến đều hiểu rằng một xã hội không bảo vệ quyền được có ý kiến khác biệt, ngay cả khi xã hội này hoàn toàn tuân thủ những giá trị và ý thức hệ riêng biệt của nó, thì nó sẽ không tránh khỏi trở nên một xã hội sợ hãi và, do đó, gây nguy hiểm cho tất cả thành viên trong xã hội.

Một phương pháp đơn giản để xác định quyền được bất đồng chính kiến trong một xã hội nào đó có được tôn trọng hay không là dùng phép thử “quảng trường thành phố”: một người có thể đến quảng trường thành phố và bày tỏ quan điểm của mình mà không sợ bị bắt, bị tù đày, hoặc hành hung không? Nếu một người có thể làm việc đó thì người này đang sống trong một xã hội tự do. Nếu không, thì anh ta đang sống trong một xã hội sợ hãi.

Những người đang sống trong một xã hội tự do có thể cho rằng phép thử này quá bao quát vì, cùng với nền dân chủ tự do, nó bao gồm cả những quốc gia thường vẫn không được coi là tự do. Theo phép thử “quảng trường thành phố” này thì những quốc gia nơi mà phụ nữ không được tham gia bầu cử, nơi nạn phân biệt tràn lan, nơi đời sống kinh tế bị độc quyền trong tay một thiểu số vẫn được coi là những quốc gia tự do. Sự phế phán rất chính đáng này đã chứng tỏ rằng tất cả những xã hội đáp ứng tiêu chuẩn “tự do” không nhất thiết là những xã hội “công bằng”. Tuy nhiên những xã hội vượt qua được trắc nghiệm này được coi như đã bước qua ngưỡng của tự do. Ngược lại, một xã hội sợ hãi thì không bao giờ bước qua ngưỡng cửa này và luôn luôn là một xã hội bất công.

Cơ chế của bạo ngược

Công thức tôi đề nghị ở trên chia thế giới thành hai hạng, xã hội tự do và xã hội sợ hãi, và khoảng trống ở giữa. Tôi tin rằng chỉ có hai loại xã hội đó mà thôi. Một xã hội không bảo vệ quyền bất đồng chính kiến chắc chắn sẽ dựa trên sự sợ hãi. Trên thực tế, sự sợ hãi là sản phẩm tất yếu bởi cơ chế của một chính thể bạo ngược.

Hãy hình dung một xã hội thuần nhất trong đó mọi người đều suy nghĩ như nhau, chia sẻ những giá trị, niềm tin, và lối sống như nhau. Xã hội giả định này là “tự do” vì sẽ không cần có luật để ngăn cấm người ta bày tỏ ý kiến khác biệt – vì đã không có ý kiến khác biệt. Và vì tất cả mọi người đều đồng ý với ý thức hệ chung nên cũng không có những người bất đồng chính kiến.

Sự đa dạng trong đời sống con người gợi ý rằng thay đổi trong bất cứ xã hội nào là điều không thể tránh khỏi. Sẽ không có hai người nào, nói gì đến tất cả thành viên trong một cộng đồng, có chung hoàn cảnh, chung thị hiếu, chung trình độ thông minh, chung kinh nghiệm, chung sở thích,v.v…Những khác biệt tự nhiên này sẽ tất yếu đưa đến những phản ứng khác nhau trước những hoàn cảnh mới. Dù một xã hội có thuần nhất đến mức nào đi nữa thì dần dần sự khác biệt giữa những thành viên trong xã hội đó sẽ xuất hiện và gia tăng. Tốc độ của tiến trình này khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố, từ mức độ đa dạng của các thành tố xã hội đến mức độ ảnh hưởng của thế giới bên ngoài, nhưng sự khác biệt về ý kiến là điều chắc chắn.

Vấn đề trở nên là: xã hội giả định này sẽ phản ứng như thế nào trước sự khác biệt ý kiến không thể tránh khỏi như thế? Liệu nó cho phép mọi người được bày tỏ một cách tự do? Liệu nó cho phép một sự thay đổi trật tự hiện hành bằng những biện pháp dân chủ? Nếu câu trả lời là “có” thì xã hội đó vẫn là một xã hội tự do.

Nhưng nếu đa số người dân trong xã hội đó không muốn thay đổi, và muốn ngăn chặn bất cứ thay đổi nào trong tương lai thì sao? Những đạo luật nghiêm cấm bất đồng chính kiến sẽ phải được ban hành bởi đa số hoặc được áp đặt bởi chế độ. Việc các đạo luật này có trở thành biện pháp ngăn chặn hữu hiệu hay không còn tùy thuộc vào sự kiên định của những người bất đồng đối với ý tưởng của họ và tùy thuộc ở mức độ khắc nghiệt của sự trừng phạt. Nhưng có một điều rõ ràng: xã hội này không còn là một xã hội tự do nữa!

Những người “hai mặt”

Ở bất cứ nơi nào mà quyền có ý kiến khác biệt bị ngăn cấm, xã hội phân chia thành ba nhóm. Một nhóm gồm những người trung thành với trật tự hiện hành vì họ thật sự tin vào nó. Nhóm thứ hai gồm những người sẳng sàng thách thức trật tự hiện hành bất chấp sự nguy hiểm sẽ bị trừng phạt -những người bất đồng chính kiến. Với những thành viên của hai nhóm người này, không có sự khác biệt giữa ý tưởng và những điều họ nói nơi công cộng. Không giống những người trung thành và những người bất đồng chính kiến, thành viên của nhóm thứ ba không bao giờ nói điều họ nghĩ. Nhóm này bao gồm những người không còn tin vào trật tự hiện hành nhưng không dám chấp nhận những nguy hiểm gắn liền với việc bất đồng chính kiến. Họ là những người “hai mặt”[2].

Stalin chết lúc tôi mới 5 tuổi. Ngày đám tang ông ta, trong tiếng nhạc trang nghiêm từ những chiếc loa phóng thanh đầu phố và những bức chân dung to tướng của Đồng chí Stalin vĩ đại đang diễn hành qua ngỏ, cha tôi gọi người anh 7-tuổi và tôi đến. Biết chắc không có ai đang nghe trộm chúng tôi, cha tôi thì thầm, “hôm nay là một ngày trọng đại mà các con phải nhớ”. Ông giải thích rằng người mà ai ai cũng gọi là “người thầy, người lãnh tụ vĩ đại” kia đã giết chết hàng triệu người và đang toan tính một làn sóng thảm sát mới đối với người Do Thái chúng tôi. “Chúng ta rất may mắn vì tên đao phủ kia đã chết”. Cha tôi kết thúc bằng một lời cảnh báo nghiêm khắc rằng chúng tôi tuyệt đối không tiết lộ cho ai điều ông đã nói với chúng tôi hôm đó, rằng chúng tôi phải làm và nói theo đúng những gì những đứa trẻ con khác làm hoặc nói. Ngay từ tuổi ấu thơ như thế, miệng hát bài ca tán tụng Stalin, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu khóc một tên sát nhân cùng với những người bạn mẫu giáo, tôi đã bước vào cuộc sống của một người Xô viết “hai mặt”.

Trong một lá thư được chuyển ra ngoài trong những năm ’70, một người Bắc Hàn đã giải thích làm thế nào để anh ta thấu đáo được nghệ thuật sống “hai mặt” này. “Tôi học được là nếu nói thật điều mình nghĩ, tôi sẽ chết. Tôi học được là nếu mình có điều gì muốn nói thì nói bằng mắt dễ hơn nhiều. Tôi học cách nhìn bằng môi và nói bằng mắt”.

Những người “hai mặt” sống trong sự căng thẳng thường trực của khoảng cách giữa ý tưởng và ngôn ngữ. Họ luôn tránh phải nói những điều không được phép nhưng cũng phải tránh nói những điều họ không tin. Và cái xã hội sợ hãi kia vẫn không để họ yên. Nó đòi hỏi họ phải liên tục bày tỏ sự trung thành với nó. Từ lớp mẫu giáo, tiểu học, cao đẳng, nơi công sở, nhà thờ, hay bất cứ nơi công cộng nào, những người “hai mặt” phải nói như vẹt những điều của ý thức hệ mà chế độ muốn họ nói và giấu đi suy nghĩ thật của mình.

Sự “tự kiểm duyệt” thường xuyên này là một phần không thể tách rời trong đời sống thường nhật của những người “hai mặt” đến mức nó trở thành một thói quen mà ở đó sự căng thẳng của mâu thuẫn giữa ý tưởng và ngôn ngữ không còn được cảm nhận nữa. Chỉ khi nào những người “hai mặt” được tự do, họ mới nhận ra sự hiện hữu của tình trạng nộ lệ trí óc mà họ đã tự trói buộc mình trước đó.

Giai thoại và chuyện cười chính trị phơi bày tính đạo đức giả của xã hội sợ hãi được dùng như biện pháp giảm thiểu tình trạng căng thẳng trong đời sống “hai mặt”. Phương thức những giai thoại và những câu chuyện cười này được truyền đạt – trong một nhóm nhỏ hay lớn, qua truyền miệng hay văn viết – phụ thuộc vào mức độ “sợ hãi” của xã hội đó. Hơn thế, số lượng những người “hai mặt” trong một xã hội sợ hãi có thể được do lượng bằng số lượng và phạm vi truyền đạt của những giai thoại và những câu chuyện như thế.

Đối với thế giới bên ngoài, không có sự khác biệt có thể nhận diện nào giữa những người “hai mặt” và những người trung thành. Cả hai nhóm người này đều có vẽ như tán thành và ủng hộ chế độ, trong khi thật ra chỉ có một nhóm. Do đó, đối với họ, một xã hội sợ hãi chỉ bao gồm hai nhóm người: một thiểu số rất nhỏ bất đồng chính kiến và một đại đa số trung thành với nhà cầm quyền. Và với mức độ khắc nghiệt đủ mạnh của sự trừng phạt, xã hội sợ hãi sẽ không có cả nhóm người bất đồng chính kiến.

Trong những năm ’30, Liên bang Xô viết không có một nhà bất đồng chính kiến nào, ít nhất là không có một người nào được phương Tây biết đến. Có phải tất cả 150 triệu người sống dưới sự thống trị tàn bạo của Stalin đều là những người trung thành ? Và, đáng kể hơn, có phải sự thiếu vắng những người bất đồng chính kiến trong thời gian này là vì họ đã lần lượt bị Stalin hành quyết một cách có hệ thống ? Như thế có phải rất hợp lý không nếu cho rằng số người bất đồng chính kiến trong một xã hội sợ hãi có thể do lường mức độ nguy hiểm của việc hành xử quyền bất đồng ? Không khí chính trị ở Liên Xô trong những năm ’70 ít ngột ngạt hơn trong những năm ’30, và do đó, vài trăm nhà bất đồng chính kiến bắt đầu xuất hiện. Nếu Gandi của Ấn độ đối diện với chế độ chính trị của Stalin hay Hitler thì chắc chắn cuộc đấu tranh của ông đã bị dập tắt trước khi nó bắt đầu. May mắn cho ông, Gandi sống trong xã hội Anh, mặc dù là một đế quốc, nhưng vẫn là một xã hội tự do và dân chủ.

Với tất cả sự thô bạo của nó, xã hội sợ hãi đối với những người quan sát bên ngoài vẫn là một xã hội đồng nhất của những người trung thành với chế độ. Họ không biết rằng có hàng ngàn, hàng chục ngàn, trăm ngàn, ngay cả hàng triệu người “hai mặt” sống trong nỗi kinh hoàng thường trực. Mặt khác, mặc dù không thể biết được chính xác con số những người “hai mặt” trong một xã hội sợ hãi, một điều chắc chắn là số người này càng ngày càng tăng. Điều này xãy ra vì những người trung thành, một khi đã nhận ra chân tướng của chế độ, dần dần trở thành thành viên của nhóm người “hay mặt” và, trong nhiều trường hợp, trở thành những người bất đồng chính kiến kiên định.

Những ý tưởng được phát biểu nơi công cộng không bao giờ phản ảnh đúng những gì một người sống trong sự sợ hãi thật sự suy nghĩ. Nếu có một cuộc thăm dò ở Liên Xô năm 1985, hoặc những năm trước đó, thì chắc chắn sẽ có đến 99 phần trăm số người ủng hộ những chính sách của chế độ cộng sản. Và những ý kiến thăm dò này đã thay đổi đột ngột chỉ vài năm sau khi cộng sản sụp đổ. Lẽ nào người dân có thể thay đổi ý kiến một cách nhanh chóng như vậy? Sự thay đổi thật sự ở đây chính là những người “hai mặt” không còn sợ hãi bày tỏ ý kiến của họ nữa.

Năm 2001, trong một cuộc họp đầu tiên của chính phủ của Thủ tướng Ariel Sharon, tôi đã lập luận rằng Do Thái cần phải chấm dứt ủng hộ một lãnh tụ độc tài, thối nát như Yasser Arafat. Một nhân vật cao cấp trong chính phủ,và là người ủng hộ tiếp tục đàm phán với Arafat nói với tôi rằng “Do Thái nghĩ gì về Arafat đều không có ý nghĩa gì cả. Điều quan trọng là ông ta có sự ủng hộ và yêu mến của người dân Palestine”. Tôi quả quyết với người bạn của tôi rằng nói nhân dân Palestin yếu mến và ủng hộ Arafat thì cũng như trước đây nói nhân dân Liên Xô yêu mến và ủng hộ Stalin vậy. Và cũng tương tự, trước đây người dân Liên Xô, để có thể sống được, phải bày tỏ sự trung thành với Stalin, người dân Palestin ngày nay cũng phải làm như thế đối với những người đang thống trị họ.

Những người trung thành

Uy quyền của một xã hội sợ hãi không phải bao giờ cũng chỉ dựa vào quân đội và công an. Một yếu tố không kém tầm quan trọng là khả năng của chế độ trong việc kiểm soát những gì được đọc, nói, nghe, và trên hết, suy nghĩ. Đây là phương cách mà một chế độ dựa trên sự sợ hãi duy trì một lực lượng cần thiết những người trung thành để hỗ trợ cho nó.

Chế độ cộng sản Liên Xô đã tiến rất xa trong khoa học nhào nặn trí tuệ của công dân họ, áp đặt người lớn tuổi trong những chương trình tẩy não có hệ thống, đồng thời tiêm nhiểm giới trẻ về sự sáng suốt của đảng và chính phủ Xô viết. Đối với những người đang sống trong một xã hội tự do, ý tưởng cho rằng nhà nước áp dụng những biện pháp tẩy não đối với công dân của mình là điều không thể hình dung được. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên, tôi có buổi họp mặt với chủ nhiệm của nhà xuất bản Random House, một người từng chỉ trích quyết liệt những vi phạm nhân quyền của nhà nước Xô viết. Ông ta hỏi tôi là người dân Liên Xô có được phép vào hiệu sách để mua sách không. Ngay lúc đó, tôi nhận ra rằng ông chủ nhiệm này đã không hiểu cơ chế vận hành của một xã hội sợ hãi. Tôi giải thích cho ông ta rằng người dân Xô viết có thể tự do đi vào bất cứ một hiệu sách nào, nhưng sách thì không.

Tất cả những xã hội sợ hãi đều phải dựa trên một mức độ nào đó của sự tẩy não. Những phương tiện truyền thông đại chúng của nhà nước không ngớt lời ca ngợi các lãnh tụ và kích động dân chúng chống lại những đối tượng được coi là kẻ thù.Nhưng rồi ngay cả những người trung thành nhất của những người trung thành cũng không thể ủng hộ một xã hội sợ hãi vô hạn định. Suốt mấy thập niên, Stalin đã khủng bố không những người dân Xô viết mà cả toàn bộ giới lãnh đạo đảng Cộng sản: một nhân vật trong Bộ chính trị có thể là một ngôi sao đang lên hôm nay những ngày mai thấy mình đang bị cùm trong một toa xe lửa đi đày ở Siberia hay đối diện với án tử hình. Sau khi Stalin chết, không ai trong đảng Cộng sản Liên Xô dám nghĩ đến việc giao quyền hành tuyệt đối như thế cho những người kế vị. Quyền lực của vị tổng bí thư kế tiếp bị giới hạn vì giới lãnh đạo của đảng muốn chấm dứt chế độ toàn trị trong đảng nhưng, quan trọng hơn, vì chính họ không muốn sống trong sự sợ hãi nữa.

Niềm hân hoan của tự do

Không sao có thể biết được chính xác mật độ phân bố của những người “hai mặt” và những người trung thành trong một xã hội sợ hãi. Nhưng từ trong kinh nghiệm đã sống với một xã hội như thế, và trong quan sát của tôi về cách hành xử của người dân trong xã hội đó, tôi tin rằng số người trung thành luôn luôn là một con số rất nhỏ. Và số người “hai mặt” nhiều hơn rất nhiều so với người ta tưởng. Hơn thế, đại đa số những người sống trong xã hội sợ hãi đều mong muốn được sống tự do.

Mức độ sợ hãi trong một xã hội càng lớn thì thay đổi xãy ra càng nhanh. Năm 1989, một sinh viên Bắc Hàn, đã đào thoát chỉ sau một thời gian ngắn theo học y khoa tại Tiệp khắc, nhận xét rằng “tuyệt đại đa số người dân Bắc Hàn, được nuôi dưỡng từ tuổi thơ coi hai cha con họ Kim là những bậc thánh, chấp nhận sự tuyền truyền của chế độ, cũng như tôi vậy cho đến khi tôi chứng kiến sự tự do tương đối của Tiệp”. Một khi những chương trình tẩy não kia chấm dứt, sự thật được phơi bày, những người “hai mặt” không còn sợ hãi nữa, thì trong bất cứ xã hội nào, đa số những người không tự nguyện sống trong sợ hãi sẽ nhanh chóng xuất hiện và lên tiếng.

Hơn bất cứ lý do nào khác, điều này giải thích tại sao Đức, Nhật, Ý, Tây Ban Nha, Nga, và rất nhiều quốc gia khác đã làm cuộc chuyển tiếp từ sợ hãi sang tự do trong thế kỷ 20. Những quốc gia này có văn hóa, niềm tin, tôn giáo, ý hệ, giá trị, và tập quán khác nhau. Nhưng trên một phương diện, chúng giống nhau: người dân ở các quốc gia này không muốn sống trong sợ hãi nữa!

Không nên đánh giá thấp ý chí của những người được tự do không bao giờ muốn trở lại với sợ hãi. Thực vậy, ý thức tự do đến lúc một người từ giả thế giới của tẩy não và sợ hãi là một sự giải thoát không dễ gì quên được. Sự giải thoát của tôi khỏi thế giới sợ hãi bắt đầu khi tôi còn là một sinh viên tại Học viện Vật lý và Kỹ thuật Matxcơva, một trường được coi như MIT ở Hoa kỳ. Cho rằng những biện pháp tẩy não thông thường không thể có hiệu nghiệm ở một chốn hàn lâm với những trí thức trẻ và thông minh như thế, chế độ đã dùng những biện pháp khác. Một chương trình tuyên truyền tinh vi hơn được sử dụng, khuyến khích chúng tôi chỉ chăm chú vào sự quan trọng của những công việc trước mắt. Rằng những thảo luận về quyền, về tự do, về công lý cuối cùng cũng chỉ là những thảo luận. Rằng làm sao những ngôn từ sáo rỗng kia có thể so sánh với những định luật Newton, Galileo, hoặc Einstein? Rằng những giá trị chính trị đến rồi đi, chỉ có khoa học mới có thể đem lại chân lý hoàn vũ và vĩnh hằng…

Mỉa mai thay, tôi được dẫn dắt từ giả đời sống “hai mặt” bởi chính một người đang ở trên đỉnh vinh quang của cái “chân lý vĩnh hằng” đó. Năm 1968, trong một bài tiểu luận nhắm thẳng vào giới lãnh đạo Xô viết, Andrei Sakharov, nhà khoa học hàng đầu của Liên Xô, cho rằng sự tiến triển của khoa học không thể tách rời quyền tự do. Sự ngột ngạt trong môi trường trí thức đã cản trở tính sáng tạo và làm tê liệt khả năng Liên Xô trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới, Sakharov viết. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa sẽ không thể nào đạt được, ông giải thích, nếu Liên Xô không cổ xúy tự do trí thức. Với một nhận định quả cảm, Sakharov đã đánh một đòn chí mạng vào uy quyền Sô viết lúc đó. Nhà khoa học hàng đầu của một cường quốc đang tự hào với những thành tựu khoa học lập luận rằng bản chất của xã hội Xô viết chính là nguyên nhân cản trở quốc gia này tiến kịp với thế giới tự do.

Đối với những nhà khoa học trẻ tưổi đang dự liệu tương lai của họ, thông điệp này đã rõ ràng. Vị thầy mà chúng tôi kính trọng và ngưỡng mộ cảnh báo rằng thế giới của sự lừa dối sẽ không đưa đến một tương lai sáng sủa cho nhân loại, mà đưa đến sự tê liệt trí thức và trì trệ của khoa học. Sakharov, người sau này đã hy sinh tất cả để thách đố chế độ phải tôn trọng nhân quyền, trở thành nguồn cảm hứng và sự thu hút không cưỡng lại được đối với tôi. Sau này khi tôi có dịp giúp việc cho ông như một người liên lạc với các nhà báo, ngoại giao, và chính khách nước ngoài, tôi chứng kiến là không có một khoảng cách nào giữa những ý tưởng sâu kín nhất của con người khiêm tốn và vĩ đại này với những gì ông ta nói nơi công cộng. Trong trường hợp của tôi, sự hội tụ giữa ý tưởng và lời nói này, xãy ra sau khi tôi trở thành một nhà hoạt động Do Thái, chấm dứt sự bực bội, buồn phiền trong tâm khảm tôi. Gánh nặng của một đời sống “hai mặt” được trút bỏ, tôi cảm thấy như được tiếp sức bởi quyền lực vô hạn của sự giải thoát này. Một cách đột ngột, tôi trở nên tự do, suy nghĩ bất cứ điều gì và nói những điều mình nghĩ. Ngay cả trong những ngày tháng tuyệt thực trong phòng giam kín, cảm giác tự do không bao giờ rời tôi.

Đối với những người đã sống trọn đời trong sợ hãi, cảm giác này chỉ sẽ đến khi xã hội của họ trở nên tự do, khi họ cảm thấy an toàn để đến “quảng trường thành phố” và bày tỏ quan điểm của họ mà không sợ. Tôi tin chắc rằng niềm hân hoan của tự do vượt lên trên biên giới của chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, và rằng phương thuốc tự do vô cùng hiệu nghiệm. Tôi cũng tin chắc rằng người ta khi đã được tự do thì đa số trong họ sẽ không bao giờ muốn sống trong sợ hãi nữa. Cho rằng, như những người hoài nghi thường rao giảng, dân chúng có tự do lựa chọn sống trong xã hội sợ hãi thì không khác gì cho rằng phần lớn những người nô lệ tự do lựa chọn sống trong nộ lệ vậy.

Theo blog FB Trần Minh Khôi

[1] The Case For Democracy – Natan Sharansky, Nhà xuất bản Public Affair 2004, ISBN 1-58648-261-0

[2] “Doublethink” trong tiếng Anh.Link


http://quechoa.info/2011/12/09/xa-h%E1%BB%99i-t%E1%BB%B1-do-va-xa-h%E1%BB%99i-s%E1%BB%A3-hai/


Saturday, December 3, 2011

Cần lấy Hiến pháp 1946 và Tuyên ngôn độc lập làm nền tảng để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992


Sent to you via Google Reader

Cần lấy Hiến pháp 1946 và Tuyên ngôn độc lập làm nền tảng để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992

image (Tham luận tại Hội thảo về sửa đổi Hiến pháp do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tổ chức tại TP HCM 30.11.2011)

Luật sư Trần Quốc Thuận

Ủy viên Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam

Ban Công tác phía Nam, Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, có công văn số 98/CV-BCTPN ngày 02/11/2011 "Gợi một số nội dung định hướng tham gia chuyên đề Hội thảo", trong đó nêu ra các tiêu đề như: Đảng lãnh đạo…; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Sử dụng quyền lực nhà nước thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp; Nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; Hoàn thiện thiết chế Quốc hội; Chủ tịch nước… Tôi thấy tất cả các tiêu đề ấy đều rất xác đáng, cho thấy Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đã cảm nhận những vấn đề bất cập trong đời sống xã hội hiện nay và cần thiết phải mổ xẻ, góp ý, sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện Hiến Pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Khi có bản Tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), thì tôi sẽ có điều kiện góp ý cụ thể.

Nay, tôi xin gợi lên một số ý kiến ban đầu như sau:

I. Thể chế Nghị quyết, văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI; làm rõ cơ chế mối quan hệ Đảng, Quốc hội và Nhân dân, thể hiện trong Hiến pháp:

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) quy định:

Theo Điều 2, "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức".

Theo Điều 4, "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Theo Điều 83, "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Cần phải làm rõ nội hàm của các điều 2, 4 và 83 của Hiến...



Sent from my iPad

Phương Tây đã hết thời?


Sent to you via Google Reader

Phương Tây đã hết thời?

hieu minh blog Có lần, đi trên phố tới văn phòng, mình thấy một cô gái có vẻ đẹp Á Đông, chân dài, dáng đi nhún nhẩy, tựa catwalk biểu diễn trên phố. Bên cạnh là vài chị da đen, da trắng, béo ục ịch, trông thấy ngán tận cổ. Nàng gốc Á đã đẹp lại càng đẹp giữa phố phường trời tây. Người ta bảo, phương Đông đang trỗi dậy, có lẽ đúng thật.

          Mới rồi, được nghe ông Niall Ferguson, người Anh, giáo sư Sử học của Harvard, nói chuyện về cuốn sách của ông dưới tiêu đề "Civilization: The West and the Rest – Nền văn minh: Phương Tây và phần còn lại của thế giới".

          Như đã hứa là có chuyện hay, Tổng Cua tóm tắt cho các bạn tham khảo.

          Văn minh nhân loại trải qua 10.000 năm thời kỳ các Cổ đại, Trung cổ,  Cận đại và nay là Hiện đại. Các quốc gia hay những miền địa lý có lịch sử hoán đổi nền văn minh như một chu kỳ, từ đông sang tây, từ bắc xuống nam hay ngược lại.

          Thế giới dự đoán, nền văn minh nhân loại đã đi vòng quanh thế giới, và hiện có vẻ muốn trở về phía Đông. Câu hỏi đặt ra là phương Tây đang ngắc ngoải và thì liệu rằng phương Đông liệu có thể thay thế?

          Sáu ý tưởng từng giúp phương Tây dẫn đầu nền văn minh

          Niall viết rằng, từ năm 1500, các nước lớn ở Tây Âu Tây đã phát triển 6 ý tưởng: (1) Competition, (2) The Scientific Revolution, (3) Property Rights, (4) Modern Medicine, (5) The Consumer Society and (6) The Work Ethic.  (Cạnh tranh, Cách mạng khoa học, Quyền sở hữu tài sản, Y tế hiện đại, Xã hội tiêu dùng, Đạo đức trong công việc).

          Trong tin học có khái niệm ứng dụng (phần mềm) sát thủ "killer apps – ứng dụng tin học", nghĩa là khi nó ra đời thì giết các phần mềm khác cùng chức năng. Microsoft Office đã giết chết Lotus 1-2-3, Wordperfect và hàng trăm các ứng dụng khác.

          Niall cho rằng 6 ý tưởng trên cũng là một Killer Apps có từ cách đây 600 năm và đã đưa phương Tây dẫn đầu nền văn minh hiện đại.

          Gia tài toàn thế giới khoảng 195.000 tỷ đô la, được tạo ra sau năm 1800 h...



Sent from my iPad