Thursday, March 31, 2011

Dân chủ là gì?

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 


Nguyễn Hưng Quốc 


Hình: photos.com

Trong hơn hai thập niên vừa qua, trên thế giới, có lẽ ít có chữ nào, về phương diện tần số xuất hiện, được phổ cập; về phương diện từ nguyên, đơn giản và dễ hiểu; về phương diện lý tưởng, được nhiều người đồng thuận; nhưng về phương diện ngữ nghĩa, lại mơ hồ; và về phương diện chính trị, lại bị lợi dụng nhiều như chữ dân chủ.

Ở đâu cũng nghe chữ dân chủ. Chữ dân chủ xuất hiện ngay trong tên chính thức của nhiều nước (chẳng hạn, ở Việt Nam trước đây, "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa") hoặc trong hàng tiêu ngữ thường được viết dưới quốc hiệu. Chữ dân chủ cũng được đặt làm tên các đảng phái chính trị. Phần lớn các cuộc cách mạng nổi lên từ đầu thế kỷ 20 đều nhắm đến lý tưởng dân chủ. Các cuộc cách mạng bùng nổ ào ạt từ cuối thế kỷ 20 lại càng giương cao ngọn cờ dân chủ. Nhân danh dân chủ, người ta phá sập bức tường Bá Linh. Nhân danh dân chủ, người ta tuyên bố khai tử chủ nghĩa cộng sản từng có thời thống trị cả một nửa nhân loại. Gần đây, cũng nhân danh dân chủ, người dân ở một số nước Trung Đông và Bắc Phi xuống đường thách thức lại các chế độ chuyên chế từng bóp nghẹt tự do của họ trong cả mấy chục năm ròng rã.

Mà không phải chỉ mới phổ biến gần đây. Khái niệm dân chủ, vốn gắn liền với nền văn minh La Hy, đã xuất hiện từ lâu. Chữ "democracy" (dân chủ) trong tiếng Anh và một số ngôn ngữ Tây phương khác hiện nay có gốc gác từ tiếng Hy Lạp cả hơn hai ngàn năm trăm năm trước, trong đó, "demos" là dân, nhân dân; và "kratos" là trị, cai trị. Có lẽ nó hoàn toàn tương đương với chữ "dân chủ" mà chúng ta đang sử dụng: dân làm chủ. Không có người nào tóm tắt khái niệm dân chủ ấy hay bằng Abraham Lincoln trong câu nói nổi tiếng: "chính quyền của dân, do dân và vì dân".

Đơn giản như thế, nhưng đi vào thực tế, khái niệm dân chủ bỗng trở thành phức tạp lạ lùng.

Thứ nhất, dân hay nhân dân là ai? Nhân dân, như một toàn khối, là một khái niệm mơ hồ, hàm hồ và phi thực. Ở đâu người ta cũng phải lựa chọn, và lựa chọn cũng có nghĩa là loại trừ. Ngày xưa, trong các nền dân chủ sơ khai thời cổ đại Hy Lạp, có ba thành phần bị loại trừ: những người ngụ cư, nô lệ và phụ nữ. Sau, dưới thời trung cổ, một thành phần khác bị loại trừ: những kẻ ngoại đạo. Ngay dưới những chế độ dân chủ thực sự thời hiện đại, thoạt đầu, cũng có nhiều thành phần bị loại trừ, chủ yếu vì lý do chủng tộc: người da đen ở Mỹ và người thổ dân ở Úc. Ngay cả khi không phải vì những lý do liên quan đến chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay giai cấp, sự loại trừ vẫn có thể xảy ra giữa đa số và thiểu số; có khi, do thiết chế, chính đa số cũng có thể bị loại trừ như trường hợp cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ năm 2000 khi Al Gore chiếm được đa số phiếu phổ thông nhưng lại thua Georges W. Bush, người được nhiều phiếu của cử tri đoàn.

Thứ hai, bằng cách nào nhân dân làm chủ đất nước, qua đó, làm chủ số phận của mình. Trên lý thuyết, có hai cách chính: một là trực tiếp; hai là gián tiếp, qua các đại biểu. Cách trên, về giá trị, được coi là tối ưu, nhưng trên thực tế, ở tầm quốc gia, hầu như bất khả thực hiện. Cách dưới, từ Cách mạng Pháp về sau, được xem như là hình thức khả thi duy nhất của dân chủ, từ đó, thuật ngữ "dân chủ đại biểu" (representative democracy) được ra đời. Nhưng ở đây lại nổi lên một số vấn đề. Chẳng hạn, thế nào là "đại biểu"? Theo A.H. Birch, trong cuốn Representation (1972), khái niệm "đại biểu" có ít nhất ba cách dùng khác nhau: một, người hành động nhân danh quyền lợi và sở thích của kẻ khác; hai, người chia sẻ một số đặc điểm của cả một tập thể nào đó; và ba, người tự đồng nhất mình với một tầng lớp nhất định. Sau khi xác định ý nghĩa của chữ "đại biểu", lại gặp một vấn đề khác: làm thế nào để chọn các đại biểu ấy? Trong lịch sử, có nhiều hình thức chọn lựa khác nhau, và không phải hình thức nào cũng thực sự dân chủ, nhất là khi những người được xem là đại biểu ấy không phải lúc nào cũng tôn trọng nguyện vọng của những người đã bầu cho mình.

Tuy nhiên, những sự khác biệt ấy cũng không ngăn cản giới trí thức và chính trị gia thành tâm và có thiện ý đạt đến một số đồng thuận nhất định để có thể phân biệt được dân chủ thực sự với những hình thức phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu.

Nói một cách tóm tắt, dân chủ phải bao gồm ít nhất một số yếu tố:
Một, nói đến dân chủ, trước hết, là nói đến cơ chế, đến cách thức tổ chức chính quyền. Một chế độ dân chủ phải được dân bầu một cách tự do và bình đẳng. Tính chất tự do và bình đẳng ấy chỉ có thể thực hiện được với một số điều kiện nhất định: thứ nhất, quyền phổ thông đầu phiếu cho mọi người thành niên; thứ hai, mọi người đều có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội, đặc biệt, được quyền đối lập và phản biện, quyền tuyên truyền và vận động cho lập trường và quan điểm của mình; điều đó có nghĩa là, thứ ba, sinh hoạt chính trị phải dựa trên nền tảng đa nguyên và đa đảng.

Tuy nhiên, bầu cử và đa đảng không bảo đảm được dân chủ nếu chính quyền không tổ chức bầu cử một cách nghiêm minh hoặc sau đó, không tôn trọng kết quả bầu cử (như trường hợp Miến Điện hay Zimbabwe trước đây). Do đó, cần thêm hai điều kiện này nữa: tính chất khả kiểm (accountability) và tinh thần thượng tôn pháp luật. Tính chất khả kiểm lại dựa trên sự minh bạch của chính phủ và quyền tự do thông tin và ngôn luận của mọi người. Trong khi đó tinh thần thượng tôn pháp luật chỉ có ý nghĩa khi tư pháp được độc lập với hành pháp.

Hơn nữa, nói đến cơ chế, không nên chỉ nghĩ đến nhà nước. Trong một xã hội dân chủ, nhà nước chỉ là một bộ phận trong mạng lưới các thiết chế đa dạng và phức tạp, bao gồm các tổ chức chính trị, tôn giáo, nghiệp đoàn, văn hóa, xã hội, thương mại, v.v... Các tổ chức này phải được độc lập với chính quyền và nhằm phát huy một xã hội dân sự lành mạnh để, một mặt, củng cố tình liên đới giữa các cá nhân, mặt khác, bảo vệ quyền lợi của các cá nhân trước khuynh hướng bao trùm và khống chế tất cả của nhà nước.
Hai, tất cả các cơ chế ấy phải được vận hành trên một nguyên tắc: pháp trị. Dân chủ chỉ thực sự là dân chủ khi nó được đặt trên nền tảng pháp luật. Pháp luật ấy, một mặt, gắn liền với những giá trị phổ quát của nhân loại; mặt khác, chi phối mọi thành viên trong xã hội, hoàn toàn không có ngoại lệ, nghĩa là không có ai, tuyệt đối không có ai, dù là vua hay tổng thống hay tổng bí thư đảng, có thể đứng trên pháp luật được.

Hai yếu tố trên rất được nhiều người nhắc đến. Nhưng dân chủ không phải chỉ là cơ chế hay nguyên tắc. Dân chủ còn là một hệ thống niềm tin và giá trị. Bởi vậy đằng sau các cơ chế hay nguyên tắc ấy bao giờ cũng có một thứ văn hóa chính trị đặc biệt được xây dựng trên ba nền tảng chính: Thứ nhất, sự tôn trọng nhân quyền, trong đó có hai quyền cơ bản nhất: tự do và bình đẳng của mọi công dân. Không được quyền nhân danh bất cứ thứ gì, kể cả đa số, để áp chế, tước đoạt quyền lợi hay chà đạp lên nhân phẩm của người khác thuộc phe thiểu số. Một xã hội dân chủ thực sự, một mặt, thực hiện ước muốn của đa số, nhưng mặt khác, phải bảo đảm quyền lợi của thiểu số. Điều quan trọng là việc bảo vệ quyền tự do và bình đẳng của con người phải được thiết chế hóa chứ không phải chỉ dựa vào thiện chí của các nhà lãnh đạo. Thứ hai, một văn hóa dân sự (civic culture) với hai trọng tâm là ý thức trách nhiệm và sự tin cậy đối với cộng đồng và đất nước. Thứ ba, tôn trọng sự đa dạng. Đây là sự khác biệt chính giữa dân chủ cổ điển (ở Hy Lạp) và dân chủ hiện đại: trong khi dân chủ cổ điển dựa trên sự thống nhất và đồng nhất, dân chủ hiện đại dựa chủ yếu trên sự đa dạng và sự khác biệt.

Không phải cái gọi là dân chủ nào cũng hội đủ các đặc điểm nêu trên. Bởi vậy, trên thế giới mới có dân chủ thật và dân chủ giả (pseudodemocracy). Dưới các nền dân chủ giả, dân chúng cũng được phát phiếu đi bầu. Nhưng họ chỉ được bầu những người đã được ai đó lựa chọn sẵn. Và họ hoàn toàn không kiểm soát được hai điều mà, trên nguyên tắc, họ cần và có quyền kiểm soát: thứ nhất, quá trình đếm phiếu (không phải ngẫu nhiên mà ở các nền dân chủ giả, những người thắng cử bao giờ cũng thắng một cách hết sức vẻ vang, toàn 100% hoặc gần gần 100%!), và thứ hai, quá trình hoạt động của các đại biểu sau khi thắng cử.

Bạn thử nghĩ xem nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là thật hay là giả?

Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc Blog (VOA)

 
 

Things you can do from here:

 
 

NHÂN TRỊ VÀ PHÁP TRỊ

 
 

Sent to you by SuperFrog via Google Reader:

 
 


Nguyễn Hoài Vân


Khuynh hướng Nhân trị

Phát nguồn từ đạo nhân, tức từ một tổng hợp bổn phận để con người có thể sống đúng với địa vị của mình đối với mọi người trong xã hội và đối với vạn vật vũ trụ (« Nhân dã giả, nhân dã » - Mạnh Tử). Tập hợp bổn phận này được xây dựng trên quan niệm mọi người đều cùng một bản thể với nhau và cùng bản thể với vũ trụ vạn vật, ví như anh em một nhà, nên có bổn phận phải nâng đỡ nhau để cùng triển nở tốt đẹp (Tử Hạ: "Tứ Hải Chi nội giai huynh đệ"- Trình Minh Đạo: "Vạn vật dữ ngã nhất thể dã"). Bản thể ấy cũng là bản thể của Trời, khiến con người cũng như thiên nhiên đều có phần linh thiêng tôn quý.


Áp dụng vào việc điều hành xã hội, Đạo Nhân cho ra những quan niệm căn bản của lý thuyết Nhân trị:

Quan niệm con người:

Con người được quan niệm một cách toàn diện, với phần vật chất, phần tinh thần và nhất là phần linh thiêng như vừa nói. Chính vì có phần linh thiêng còn gọi là Thiên tính này mà mọi người đều phải được kính trọng.

Quan niệm giáo dục

Trong thuyết Nhân trị là tìm lại và dưỡng nuôi cái tính trời tiềm tàng, nơi mỗi con người làm cho tính ấy không bị tư dục che lấp, để thể hiện mạnh mẽ trong cuộc sống. Giáo dục ở đây chủ trương hướng nội và tin tưởng vào cái Tính thiện nơi mỗi con người.

Quan niệm lịch sử:

Thuyết Nhân trị cho chân lý hay "đạo" hiển lộ ở quá khứ, rồi dần dần lu mờ đi với thời gian. Vì thế, cần lấy người xưa làm gương mẫu và đi tìm chân lý trong truyền thống. Đó là quan niệm lịch sử tiến hóa theo chu kỳ.

Quan niệm xã hội

Ở đây coi xã hội như một gia đình lớn như ý nghĩa câu "dân ngô đồng bào" của Trưng Tái. Xã hội cũng có thể được ví như một cơ thể lớn.

Quan niệm chính quyền

Trong thuyết Nhân trị coi nhà cầm quyền như Cha, Mẹ, Chú, Bác người dân, có bổn phận phải "thương dân như con đỏ". Quan niệm chính quyền này trọng bổn phận hơn là quyền hành.
Quan niệm pháp luật: pháp luật ở đây bị coi như chỉ là sự bổ túc cho một tập hợp quy ước gọi là Lễ. Lễ là một thứ "luật" tự nhiên mà mọi người đều chấp nhận trong thâm tâm mình. Lễ được hình thành từ những yếu tố bẩm sinh, tức phần nào từ cái Tính thiện nơi mỗi người và từ một quá trình giáo dục, đào luyện lâu dài. Khi Lễ không còn đủ để điều hành việc nhân sinh, người ta cực chẳng đã mới phi dùng đến pháp luật.

Khuynh hướng Pháp trị

Phát nguồn từ học phái Lão Trang và học thuyết của Tuân Tử. Học phái Lão Trang chú trọng ở sự tuân theo định luật tự nhiên của vũ trụ, không làm gì cưỡng lại định luật ấy mà dẹp bỏ mọi tư dục để cho định luật ấy tự nhiên "làm" mọi việc qua mình. Đó là lý thuyết "Vô vi nhi vô bất vi" (không làm nhưng không gì không làm).

Tuân Tử chủ trương không thể chờ đợi giác ngộ định luật của Trời Đất, mà phải đặt ngay ra những quy luật làm tiêu chuẩn giải quyết việc nhân sinh xã hội. Ông cho Đạo không phải là Đạo Trời, mà là Đạo người. Ông cũng đề ra quan niệm con người mang tính ác, cần có những tiêu chuẩn từ bên ngoài để theo đó sửa đổi, điều tiết.

Từ khái niệm "định luật của vũ trụ" nơi Lão Trang đến sự phân biệt Đạo trời, Đạo người, của Tuân Tử, người ta đi tới quan niệm "Pháp" tức một hệ thống quy luật điều khiển toàn bộ nhân sinh hành vi có tính cách tuyệt đối, không được bàn cãi (Pháp bất nghị). Trên nền tảng ấy, lý thuyết Pháp trị được hình thành với những quan niệm cơ bản sau :

Quan niệm chính quyền:

Pháp gia chủ trương nhà cầm quyền không nên làm gì cả, mà chỉ dựa vào "Pháp" để thưởng phạt người dưới. Vì ai cũng ham được thưởng, sợ bị phạt nên sẽ đều tự động làm đúng "Pháp". Đó là thái độ "Vô vi nhi vô bất nhi" của Pháp gia, ảnh hưởng Lão học. Quan niệm này trọng quyền hành hơn trọng bổn phận. Việc cai trị hoàn toàn dựa trên "Pháp" nên có căn bản là Vô Tư, Vô Tình, khác với kuynh hướng Nhân trị coi việc công như việc tư, coi người dưng như thuộc gia đình mình, trị nước như cha anh lo cho con em trong nhà vậy. Pháp gia có thể từ bỏ chính gia đình mình, trong khi người Nhân coi mọi người như người nhà, để cho dù thưởng hay phạt cũng không quên cái tình ấy.

Quan niệm xã hội:

Xã hội ở đây là một cái máy lớn, hành động của mỗi người đều phải phù hợp một cách chính xác với danh phận của mình như đã được quy định bởi "Pháp". Làm sai, làm thiếu hay làm quá lố, làm dư ra đều bị trừng phạt. Công nhỏ quá hay công lớn quá đều mang tội (Hàn Phi Tử, Thiên 7). Thật vậy, một cơ phận trong bộ máy chắc chắn là không thể chạy nhanh hay chậm hơn tốc độ đã được quy định.

Quan niệm lịch sử của Pháp gia là quan niệm tân tiến, tức tin vào sự tiến bộ, vào sự giải quyết các vấn đề nhân sinh trong tương lai, nhờ vào việc đặt ra và thi hành "Pháp". Khác với khuynh hướng Nhân trị, lịch sử ở đây tiến theo đường thẳng. Pháp Gia Hàn Phi cũng khẳng định điều kiện kinh tế quy định hướng tiến của lịch sử, trong khi Pháp Gia Thương Ưởng đề ra một tiến trình của lịch sử dựa trên một loại biện chứng pháp sơ khai với từng giai đoạn mang mầm mống của sự tự hủy diệt mình để hình thành giai đoạn sau (nhưng thiếu "thống nhất biện chứng").

Quan niệm giáo dục ở đây thiên về hướng ngoại, dựa trên việc không theo một tiêu chuẩn bên ngoài. Pháp Gia nghĩ con người mang Tính ác, cần phải biến hóa cái tính ấy đi cho phù hợp với "Pháp". Từ đó, họ coi con người như gỗ đá, có thể dư thì cắt bớt, thiếu thì chắp thêm (Hàn Phi – Hiển Học) họ cũng quan niệm "Chính giáo hợp nhất" (Lý Tư) đặt giáo dục dưới sự kiểm soát của nhà chính trị (Dĩ lại vi sư), và triệt để bài bác văn học, coi đó như nguồn gốc của sự chống lại "Pháp".

Quan niệm con người:

Pháp gia coi con người như gỗ đá có thể đẽo gọt, hay như cơ phận của một bộ máy, phải chạy đúng như đã được quy định, với quan niệm ấy, họ có thể tiêu diệt một phần xã hội theo chủ trương "lấy số nhiều bỏ số ít" (dụng chúng nhi sả quả - Hàn Phi), khác với người Nhân, tôn trọng mỗi người như một biểu hiệu của Thượng Đế.

"Nhân" và "Pháp" trong trào lưu tư tưởng hiện đại :

Ngày nay người ta có thể coi như thiên về "Nhân" những tư tưởng quan niệm con người một cách toàn diện và từ đó tôn trọng con người với ý nghĩa "con người nói chung", đề cao sự ôn hòa rộng rãi, chấp nhận những khác biệt, hướng về lý tưởng tự do, đặt nặng quyền lợi cá nhân. Trên trường chính trị, đó là những thể chế dân chủ, đặc biệt là dân chủ đa nguyên, là cách cầm quyền khách quan thực tế, là chủ trương bảo vệ thiên nhiên.

Ngược lại các tư tưởng thiên về "Pháp" thu hẹp định nghĩa con người, như coi con người chỉ là con người kinh tế, con người giai cấp (Marx), con người sinh lý (Freud), ý tưởng loại bỏ Thượng Đế trong đời sống con người (Nietsche), hay những tư tưởng gián cách con người với Thượng Đế, phủ nhận tính linh thiêng tự nhiên của con người và vạn vật của một vài tôn giáo mặc khải. Các tư tưởng thiên về "Pháp" thường quá khích, giáo điều chủ nghĩa, đề cao "Đồng" hơn là "Hòa", trọng bình đẳng hơn tự do, bảo vệ quyền lợi cộng đồng (cộng đồng đân tộc, Quốc gia, giai cấp, tôn giáo...) hơn là quyền lợi cá nhân. Trên trường chính trị, đó là những thể chế độc tài, là cách cầm quyền chủ quan duy ý chí, là kinh tế chỉ huy, là những mô hình phát triển tàn phá thiên nhiên, phung phí tài nguyên thiên nhiên. Nói rộng hơn, sự hệ thống hóa việc nhân sinh hành vi, tức mọi chủ thuyết, ý thức hệ ... đều dễ thiên về "Pháp". Thật vậy nếu chấp nhận rằng con người có những phần vượt ngoài mọi sự lý luận thì người ta buộc phải suy ra cái tác dung căn bản của các hệ thống lý luận là thu hẹp định nghĩa con người.

1   2

 
 

Things you can do from here:

 
 

Monday, March 28, 2011

Saturday, March 26, 2011

CẤM MUA BÁN VÀNG ĐÔ ĐÚNG HAY SAI?


Sent to you via Google Reader

CẤM MUA BÁN VÀNG ĐÔ ĐÚNG HAY SAI?

Cuối cùng thì nhà nước cũng đưa ra quyết định hòng độc quyền mua ban vàng và đô la. Cụ thể là chỉ có nhà nước mua bán đô la vì lý do chống lạm phát. Còn vàng miếng thì chỉ mua bán một chiều. Có nghĩa là dân chỉ có bán vàng miếng cho nhà nước, mà không được mua. Điều này nếu làm triệt để như chuyện đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, thì vàng trong dân sẽ không còn miếng nào, mà chỉ còn vàng trang sức đeo chơi.

Bản chất kinh tế của loài người ngay từ thời ăn lông, ở lỗ đã là kinh tế thị trường. Bắt đầu từ việc trao đổi hàng hoá theo qui luật cung cầu, mà định ra giá trị sản phẩm. Sau đó, phát minh tiền tệ và tìm ra những kim loại quí làm chứng nhận để trao đổi hàng hoá cũng theo qui luật cung cầu, mà xác định giá trị hàng hoá.

Trong kinh tế có 2 trường phái: trường phái kinh tế thị trường tự do, để thị trường cung cầu tự điều chỉnh bằng bàn tay vô hình. Và trường phái kinh tế có bàn tay hữu hình của nhà nước xen vào để điều chỉnh khi cần thiết. Nhưng về mặt thực tế, không có trường phái nào hoàn hảo.

Nếu theo kinh tế thị trường tự do thì, gần đây, các nhà kinh tế đã đúc kết cứ chu kỳ 7 năm có một cơn khủng hoảng kinh tế. Lúc đó, buộc phải có bàn tay hữu hình của chính sách xen vào để kềm chế những ảnh hưởng xấu của nó trong tương lai và chấn chỉnh nó đi đúng quỹ đạo.

Nếu theo trường phái kinh tế có bàn tay hữu hình, thì chính sách của nhà nước phải luôn nghiêm ngặt với qui luật cung cầu do bàn tay vô hình của thị trường làm ra. Chứ không phải nhà nước tự đưa ra những qui định cung cầu theo ý chí để làm phá vỡ qui luật cung cầu.

Cho nên, một nhà nước có chính sách tốt là một nhà nước có một thống kê minh bạch, chính xác về cung và cầu của quốc gia, để đưa ra những chương trình vĩ mô đúng, để thực hiện những hoạt động kinh tế vi mô không ...


Thanks & regards
Nguyen Thanh Tien

Tuesday, March 22, 2011

Bài học 40 năm trong “mớ bòng bong đấu tranh giai cấp” của đời bố – Tặng con 14 tuổi

Phan Châu Thành

imageCon trai yêu quí, năm nay con sẽ tròn 14 tuổi, và bố viết bài này tặng con nhân dịp trọng đại này. Đối với bố, đó là kỷ niệm trọng đại, vì cuộc đời bố dường như chỉ thực sự bắt đầu năm bố 14 tuổi, mảnh khảnh như con bây giờ, từ khi bố phải tham gia vào…"đấu tranh giai cấp"!

Lần đầu tiên bố biết đến khái niệm "thành phần giai cấp" là năm lớp 7, khi bố phải làm đơn và hồ sơ thi lên cấp 3 và vào Đoàn TNCS. Khi đó bắt buộc phải ghi rõ "thành phần giai cấp" và "thành phần chính trị" của mình. Vì không biết đó là gì nên bố được thầy cô hướng dẫn "khai" mình có thành phần giai cấp là "tiểu tư sản học sinh", khai cha mẹ mình là "công nhân vô sản", và ông bà là "bần cố nông"… Về thành phần chính trị, bố ghi là "đội viên Thiếu niên Tiền phong", và rất thích thú, dù cũng không hiểu thành phần chính trị là gì!

Thấy lạ về thành phần giai cấp của mình, bố đến trường hỏi các thầy cô – những người bố rất kính yêu – xem họ thuộc thành phần nào? Họ đều tự nhận là tiểu tư sản, nên bố càng băn khoăn hơn. Hỏi tại sao họ là tiểu tư sản thì thì được giải thích vì họ không lao động chân tay, không làm ra của cải cho xã hội – bị coi là ăn bám, và có một ít tài sản (tiểu)… (?). Các thầy cô đã dạy bố cấp 2 cấp 3 ở vùng trung du "chó ăn đá gà ăn sỏi" ấy ai giàu nhất là có xe đạp, không ai có radio… và đều ở trong những căn phòng vách trát đất trộn rơm lợp mái tranh do chính học sinh như bố cùng các thầy cô lao động làm nên… Còn ăn bám ư? Họ là những nhà giáo tận tụy vô tư vì học trò nhất mà bố từng được học. Không làm ra của cải vật chất ư? Họ đã "làm ra" thế hệ bố – thế hệ đang cầm quyền…

Hai vị "thành phần vô sản" sinh ra bố thực tế còn có nhà riêng (cũng vách đất tự làm) và hai chiếc xe đạp, nhiều tài sản hơn các tiểu tư sản giáo viên cơ mà? Và quan trọng hơn là gia đình vô sản nhà ta luôn mong và cố gắng làm để có nhiều tài sản hơn. Còn bố, con của giai cấp vố sản sao lại là "tiểu tư sản"? 14 tuổi, lớp 7, "tiểu tư sản", ăn bám giai cấp vô sản, tài sản quí nhất là cây bút máy Trường Sơn với quyết tâm đi thi toán Miền Bắc để được "giai cấp vô sản" thưởng một tài sản mơ ước là đôi dép cao su (để tiểu tư sản không phải chân đất đi học xa khi đường mùa hè nóng cháy, mùa đông lạnh nứt da…).

Dù được coi là học giỏi, khái niệm "thành phần giai cấp" đã làm bố quá bối rối! Lại hỏi thầy cô, nếu sau này em học xong ra trường đi làm thì sẽ thuộc giai cấp gì? Trả lời: Nếu em cũng dạy học như thầy cô thì vẫn chỉ là tiểu tư sản ăn bám! Nếu là là Kỹ sư, Bác sĩ thì là "trí thức tiểu tư sản", nhưng nếu em đi làm công nhân như cha mẹ thì sẽ có thành phần "ưu tú" nhất xã hội: vô sản. Từ đó, bố quyết học giỏi thành Kỹ sư để thêm đuôi "trí thức" vào thành phần giai cấp của mình, vì rõ ràng cả ở nhà và ở trường không ai muốn bố thành vô sản, dù ai cũng nói đó là thành phần "ưu tú nhất xã hội". Trong đầu non trẻ của bố càng thêm băn khoăn: có gì đó không nhất quán trong cách xã hội nói, làm và dạy thế hệ sau về giai cấp vô sản?

Phát hiện nhà mình khi đó có đến ba, bốn thành phần giai cấp cũng làm bố rất lo lắng. Ông bà (cố của con) hóa ra không phải "bần cố nông" như bố đã chép của thằng bạn vì thấy mặt nó vênh lên khi ghi mấy chữ đó, mà ông là thành phần "tiểu tư sản phong kiến -tư bản" (vì ông cố là thầy đồ chữ nho rồi cả chữ tây) còn bà cố lại là "tư sản bóc lột" (vì bà từng có nghề đi buôn chuyến ở chợ quê để nuôi chồng con)… Bố đã gần như phát ốm vì thành phần giai cấp rất "thành phần" của ông bà mình, và bố đã phải rất cố gắng để có đủ dũng khí đến gặp cô giáo Chủ nhiệm thú tội mình đã khai sai thành phần giai cấp của ông bà… trong lý lịch Học sinh Cấp 2 và Đoàn viên lớp 7… Cô giáo bố đã tái mặt, kéo riêng bố – cậu học trò cưng của cô – ra một góc lớp và cấm bố không được nói điều đó với bất kỳ ai nữa, để cô lo sửa lại…

Thành phần giai cấp của bố chưa rõ sửa thế nào thì lớp bố tiễn tám tân binh tình nguyện – tất cả các cậu trai 16 tuổi lớp 7 của bố – được ưu tiên ra trận "vì có thành phần giai cấp cũng ưu tú": nông dân, như thầy Hiệu trưởng nói, làm bố đã có cảm giác vì mình là tiểu tư sản nên không có vinh dự đi bộ đội (chứ không phải vì mới 14 tuổi). Các bạn bố được vội vã kết nạp vào Đoàn, và sau hai tuần huấn luyện (!) được đưa thẳng ra chiến trường thành cổ Quảng Trị năm đó, để mãi mãi không ai trở về… Tin tám bạn từ Đoàn viên Trường mới kết nạp bỗng chuyển thành Liệt sĩ đã về đúng dịp tháng 5 năm đó khi bố và các bạn khác còn chưa học xong lớp 7, và thầy Hiệu trưởng đã "vinh dự tuyên bố Trường ta đã vinh dự góp 8 Liệt sĩ mừng sinh nhật Bác" mà bố chẳng hiểu đó là vinh dự gì?

Ôi, các bạn bố đều là con cháu các "thành phần giai cấp ưu tú": bần cố nông, và bản thân họ đều là những chàng trai nông dân thực thụ mà bố – cậu bé 14 tuổi từ thành phố sơ tán về – từng vô tình ghen tị, cả về thành phần giai cấp lẫn vinh dự được ra trận của họ… Trong số Liệt sĩ đó có bạn thân của bố vì không đủ cân nặng và chiều cao nên đã nhờ bố khám sức khoẻ thay, và bố đã tự hào vì giúp bạn vượt qua kỳ khám sức khoẻ đó (!). Họ đã hy sinh cho giai cấp vô sản khi – cũng như bố – họ chưa hiểu thành phần giai cấp là gì…

Kết luận mơ hồ đầu tiên của bố về "thành phần giai cấp": thành phần ưu tú – vô sản: bần cố nông PHẢI tiên phong hy sinh vô tư cho chế độ cộng sản. Thực ra, cả xã hội cộng sản không ai muốn làm như thế, họ chỉ nói thế thôi. Họ chỉ "tham gia" giai cấp ưu tú nhất xã hội vì không có lựa chọn nào khác hoặc vì muốn vào Đảng để làm lãnh đạo…

*Ghi chú: Bố rất mừng là hôm nay 14 tuổi con chưa bị ai nhồi nhét về thành phần và đấu tranh giai cấp. Nếu bố là người đầu tiên nói với con điều này thì con biết phải làm gì rồi đấy: cứ suy nghĩ và có ý kiến của riêng mình.

Lên cấp 3, bố và các bạn phải sống và học trong rừng sâu. Bố "bị mất" lý lịch đoàn viên từ lớp 7 nên phải "khai" lại. Lần này bố "khai" đúng tình trạng "đa giai cấp" của gia đình mình. Bố còn thấy gia đình tất cả các bạn cũng vậy: đều đa giai cấp! Vấn đề đó sẽ chẳng làm bố lo lắng nhiều nếu từ cấp 3 bố không được học rất nhiều về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp của Mác Lê Mao. Bố và các bạn đã phải học tập "đấu tranh giai cấp" với nhau ở trường, phải liên tục rèn luyện để "gột rửa" "thành phần tiểu tư sản" như các thầy cô dạy chính trị và nhà trường yêu cầu. Bố đã phải thường xuyên viết tự kiểm điểm và kiểm điểm người khác theo tiêu chuẩn của giai cấp ưu tú, phải theo dõi nhau mọi lúc mọi nơi (moi xấu bạn bè, và cả thầy cô…) gọi là "đấu tranh phê và tự phê", phải tìm xem ai có người thân có thành phần bóc lột (đi buôn, không vào hợp tác xã…) để đem ra "đấu tranh giai cấp", ai thành phần "phản động" thì phải báo công an bắt ngay…

Bố bắt đầu lo lắng quan sát "mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp" trong nhà mình, vì "Ở đâu có giai cấp, ở đó có xung đột và mâu thuẫn giai cấp, và ở đó phải có đấu tranh bạo lực do giai cấp vô sản lãnh đạo!" Mà gia đình ta hội tụ mọi điều Mác nói trên, có đủ cả tư bản bóc lột đến vô sản lãnh đạo… Lạ thay, đấu tranh giai cấp đã không diễn ra trong gia đình ta. Ông bà nội con và các cô cậu bố đều là các đảng viên cộng sản, "thuộc" giai cấp vô sản chính hiệu lại không bao giờ đấu tranh gì với "giai cấp tiểu tư sản phong kiến và tư sản bóc lột" trong nhà là ông bà cố, mặc dù Mác Lê khẳng định phải có đấu tranh, và Đảng thúc giục phải đấu tranh… Ngược lại, cả nhà ta chỉ một lòng yêu kính "thành phần phong kiến và tư sản nhà mình".

Kết luận "khôn ngoan" của bố về "thành phần và đấu tranh giai cấp" khi tốt nghiệp cấp 3: Thành phần giai cấp chỉ là cái vỏ, không quyết định bạn có ưu tú hay không. Đấu tranh giai cấp chỉ là giả tạo, là cách để người ta "làm lãnh đạo", hoặc "phục vụ đất nước".

* Ghi chú: Lúc này bố đã cảm thấy có gì đó rất không ổn với việc cả xã hội cứ điên lên phân chia, kết buộc nhau về thành phần giai cấp rồi mang nhau ra đấu tranh giai cấp?

Vì thế, một mặt bố luôn mong ước được giống như ông cố, vì ông luôn có uy tín hơn nhiều các vị "vô sản lãnh đạo" trong nhà là ông nội con hay các chú bác, mặt khác, bố cũng muốn phấn đấu vào đảng để được "làm lãnh đạo" và "phục vụ nhân dân"…

Nhờ gia đình không bị vấn đề "thành phần giai cấp", luôn tích cực "đấu tranh giai cấp" như một Hồng vệ binh Việt, bố được chọn là "hạt giống cộng sản" để gieo cho vụ sau. Với điểm thi đại học cao, "Hồng vệ binh Việt – bố" đã được "gieo" sang trời Âu XHCN để thành người cộng sản trí thức để về "phục vụ nhân dân" và xây dựng XHCN.

Từ đó, quá trình "đấu tranh giai cấp" của bố đã bị thay đổi và hủy bỏ sau những gì bố đã trải nghiệm về "đấu tranh giai cấp" của vô sản quốc tế trên quê hương cộng sản Nga, ở Tiệp, Đức, Hung, và nhất là tại Ba Lan… trong những năm bố du học đó.

Bố đã thấy, nhân danh "đấu tranh giai cấp", xe tăng quân đội cộng sản đã bao vây và húc vào cổng rồi bắn vào xưởng đóng tàu (nơi bố đang thực tập để trở thành Kỹ sư cộng sản). Bố đã thấy công an cộng sản bắn vào giai cấp vô sản ưu tú của họ mà họ tự nhận là "đại diện trung thành". Bố đã thấy các bạn học và các vị Giáo sư đáng kính của bố gom những quả lựu đạn khói và cay do quân đội cộng sản bắn vào các trường đại học cổ kính và các khu ký túc xá rồi dùng chúng để đốt ra tro các thẻ đảng viên cộng sản của họ, rồi họ dùng bàn ghế làm thành lũy ngăn xe quân đội cộng sản vào trường bắt bớ, họ cùng nhau sống nhiều tuần lễ trong giảng đường như công nhân sống nhiều tháng trời trong xưởng đóng tàu của mình… Bố đã thấy những hầm mộ linh thiêng trong các nhà thờ Ba Lan trở thành nơi cứu sống cả dân tộc khao khát tự do – nơi những cỗ máy photocopy nhân bản sự thật hàng triệu lần làm vũ khí hạ gục những nòng đại bác cộng sản chạy điên cuồng trên các đường phố và thôn quê của Chopin…

Tóm lại, bố đã được "mở mắt" về bản chất của cái gọi là "đấu tranh giai cấp" (thực ra là nhiều lần "nhắm tịt như mù', không khóc mà nước mắt vẫn chảy ròng ròng nhiều ngày, đầu óc luôn đau buốt vì hóa chất từ lựu đạn khói cay của cộng sản trên đường đi học và đi thực tập và trong ký túc xá của bố) để kịp nhận ra khái niệm "giai cấp" và "đấu tranh giai cấp" của cộng sản là vô cùng ác độc và nguy hại đối với loài người. Bố đã thấy dường như không gia đình nào, dân tộc "XHCN" nào được bình yên trước các cuộc "đấu tranh giai cấp" của các đảng cộng sản nhân danh giai cấp vô sản. Sau này trở về, bố càng thấy điều đó rõ ràng trên đất nước mình, cho đến hôm nay… Bố thấy cả hệ thống cấu trúc xã hội, nền tảng đạo đức con người, các nền văn hóa xã hội của các dân tộc vẻ vang trong đó cả dân tộc mình đã bị vùi xuống bùn tanh của chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp như thế nào…

Vì thế, bố đã nhiều lần từ chối gia nhập đảng cộng sản. Bố tin khái niệm giai cấp vô sản và đấu tranh giai cấp của Mác sai và mâu thuẫn với bản chất con người, đi ngược quá trình phát triển của loài người, nên chủ nghĩa cộng sản thiếu tính người đã, đang và sẽ phải diệt vong. Bố không cố chứng minh kết luận trên vì không phải nhà xã hội học, chính trị học hay triết học. Nhưng việc phải tự tìm ra câu trả lời cho chính mình về giai cấp vô sản và đấu tranh giai cấp với bố lại vô cùng quan trọng, vì bố không muốn con phải lạc vào mê hồn trận "đấu tranh giai cấp vô sản" đó, rồi mất cả đời người để tìm lối thoát ra.

Với bố, không có cái gọi là "giai cấp vô sản" mà chỉ có giai cấp công nhân, như các giai cấp khác đều làm ra giá trị và tài sản cho xã hội, đều muốn và có quyền tự do sở hữu tài sản của mình, và đều không muốn "cộng sản". Với bố, không phải đấu tranh giai cấp hãm hại nhau ngược bản chất con người, mà là xây dựng xã hội tự do dân chủ trên cơ sở đảm bảo quyền con người bình đẳng mọi giai cấp mới làm xã hội phát triển tốt đẹp lên.

Sau gần 40 năm sống trong "đấu tranh giai cấp" bố thấy Mác chỉ là một đầu óc không bình thường, còn các đảng cộng sản thì đã phạm đầy sai lầm và tội ác với các dân tộc họ vì các cuộc cách mạng giai cấp vô sản đẫm máu bạo lực cộng sản của họ. Bạo lực vô sản và đấu tranh giai cấp là hai thứ nguy hiểm nhất mà loài người từng phải chịu đựng và không thể chịu đựng được nữa.

Hôm nay, tuy cộng sản vẫn đang cực thịnh trên đất nước ta, nhưng bố tin rằng nếu tất cả các cậu trai 14 tuổi lớp 7 như con, tuy đã không còn phải lo âu về "thành phần giai cấp" của mình nữa, được nghe cha anh mình nói thật về bản chất của giai cấp vô sản và cái gọi là "đấu tranh giai cấp" của họ, như bố đang nói với con, như bố đã nói với chị con khi chị 17 tuổi, thì nhất định con sẽ không bao giờ tham gia "đấu tranh giai cấp" man rợ đó, nhất định không ai muốn "đấu tranh giai cấp" nữa, nhất định chế độ cộng sản sẽ diệt vong khi thế hệ con trưởng thành trên đôi chân mình, không phải trên ảo giác mê hoặc và lừa bịp của chế độ cộng sản giả dối đang bao vây kín khắp nơi từ khi các con là tờ giấy trắng.

Con hãy nhớ: ông bà nội con không vô sản, ông bà là công nhân và có tài sản lớn lao để lại là Niềm tin vào Tự do Dân chủ cho nước Việt – giá trị mà bố tin và con sẽ tin vào.

PS: Bố hy vọng là ngày ấy rất gần thôi, con ạ, dù con chưa hiểu hết những gì bố muốn nói. Nhưng bố mong con hiểu điều này khi con lên trung học, đại học điều bố chỉ hiểu sau gần 40 năm bị "đấu tranh giai cấp" cộng sản đã hầu như đánh cắp cả cuộc đời.

Sài Gòn – 12/03/2011

P. C. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://boxitvn.wordpress.com/2011/03/18/bi-h%E1%BB%8Dc-40-nam-trong-m%E1%BB%9B-bng-bong-d%E1%BA%A5u-tranh-giai-c%E1%BA%A5p-c%E1%BB%A7a-d%E1%BB%9Di-b%E1%BB%91-t%E1%BA%B7ng-con-14-tu%E1%BB%95i/

Nguyễn Xuân Diện: KHÔNG CÓ TƯ DUY PHẢN BIỆN, KHÔNG PHẢI TRÍ THỨC!

Người được coi (hay tự coi) mình là trí thức, ngoài yêu cầu phải đạt tới một trình độ tri thức nhất định còn phải là người quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội và phải có chính kiến trước các vấn đề đó.

Nguyễn Xuân Diện: KHÔNG CÓ TƯ DUY PHẢN BIỆN, KHÔNG PHẢI TRÍ THỨC!: "- Sent using Google Toolbar"