Monday, December 27, 2010

"Nếu xa dân thì chúng ta không còn lí do gì để tồn tại”

Bác dạy: “Dân chủ là làm sao cho dân mở miệng, đừng để cho dân sợ không dám mở miệng, nhưng điều đáng lo hơn nữa là khiến dân không thiết mở miệng”, tức là người ta không có niềm tin để tham gia vào công việc chung nữa và khoảng cách giữa những người cầm quyền và những người dân là quá xa rồi. Và “Nếu chúng ta xa rời dân thì chúng ta không còn lí do gì để tồn tại…”.

>> Món nợ của hậu thế với Hồ Chí Minh

"Nếu xa rời dân thì chúng ta không còn lí do gì để tồn tại..."

Độc giả Lê Thị Vân ở Nha Trang có hỏi:"Tôi thấy tên Đảng, tên Nước của Bác rất tuyệt vời. Vậy sao chúng ta không làm đúng theo Bác?"

ĐBQH Dương Trung Quốc: Tôi nghĩ đây là câu hỏi không phải mới mẻ nhưng lâu nay chúng ta có phần né tránh bởi vì có lẽ nó vẫn chưa chín muồi chăng? Cái tên là một điều rất quan trọng và hàm chứa những giá trị nhất định nhưng đồng thời chúng ta cũng phải thấy rằng bản thân mỗi lần đổi tên cũng là sản phẩm của chính thời đại đặt ra.

Tôi không phải Đảng viên nên tôi không dám bình luận gì nhiều nhưng mỗi khi đổi tên Nước, tên Đảng thì có bối cảnh lịch sử lúc đó. Bối cảnh lịch sử có cái lí của nó còn thực tiễn lịch sử sau đó sẽ kiểm nghiệm.

Tôi nghĩ rằng, đến lúc chín muồi nó khắc đến. Quan trọng hơn cái tên, đó là sự phát triển. Chúng ta vẫn gìn giữ được sự phát triển và thực tiễn cách mạng chúng ta đã tạo ra và thích ứng với sự phát triển của ngày hôm nay. Tôi cho điều đó mới là quan trọng.

Còn viêc đổi tên nước nó phải trải qua các tầng mức của các thủ tục đến khi đạt được sự đồng thuận cao thì tự khắc sẽ đến.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Độc giả Nguyễn Quang Thạch muốn tranh luận đến cùng với PGS Lê Mậu Hãn và nhà sử học- ĐBQH Dương Trung Quốc. Bạn ấy nói: "Tôi đang nghe đàm thoại và tiếp tục hỏi tiếp những câu hỏi sau: Theo Bác Hồ dân chủ là cho dân mở miệng nhưng thực hành dân chủ ở chúng ta vẫn đang ở hình thức giơ tay biểu quyết chứ không phải là ý thức tự thân.

Với mặt bằng dân trí thấp như hiện nay, theo nhà sử học Dương Trung Quốc và PGS Lê Mậu Hãn thì giải pháp nào khiến dân chủ không phải là một thứ xa lạ và hình thức trong dân ta và thực hiện ước nguyện của Bác được thực hành dân chủ?"

ĐBQH Dương Trung Quốc. Ảnh: Lê Anh Dũng.
ĐBQH Dương Trung Quốc: Việc biểu quyết chỉ là 1 phương thức thể hiện thôi còn phát biểu là cách thể hiện, bày tỏ quan điểm của mình, 1 sự chia sẻ, 1 sự phản biện, 1 sự đóng góp.

Tôi có biết 1 câu nói của Bác Hồ , câu này không có trong chính văn, nhưng khi tôi dùng câu này trước Mặt trận Tổ Quốc, tôi phải nói rằng đây là 2 câu nói nằm trong Hồi ức của 2 nhà Lãnh đạo công tác tuyên huấn rất nổi tiếng. Bác Hồ có nói rằng "Dân chủ là làm sao cho dân mở miệng, đừng để cho dân sợ không dám mở miệng, nhưng điều đáng lo hơn nữa là khiến dân không thiết mở miệng", tức là người ta không có niềm tin để tham gia vào công việc chung nữa và khoảng cách giữa những người cầm quyền và những người dân là quá xa rồi.

Đó là điều đáng cảnh báo và câu nói của Bác hết sức sâu sắc. Bởi vì sức mạnh của chính Đảng của chúng ta là sức mạnh hội tụ được lòng dân, tập hợp trí tuệ của dân. Nếu chúng ta đánh mất cái đó thì như Bác Hồ đã nói: "Nếu chúng ta xa rời dân thì chúng ta không còn lí do gì để tồn tại...".

Tấm gương thuyết phục hơn vạn bài diễn thuyết

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn đọc Nguyễn Việt Hùng ở TP. HCM cho rằng giá trị lớn nhất Bác để lại cho đất nước, cho dân tộc này là niềm tin. Mọi người dân đều tin vào Bác và từ đó tin vào đảng. Ngày nay, chính Đảng ta cũng đã nhận thấy niềm tin của nhân dân với đảng đã suy giảm. Vậy ai chịu trách nhiệm lỗi này với Bác và tại sao đảng lại có lỗi này với Bác?

PGS Lê Mậu Hãn: Niềm tin hiện thực phải căn cứ vào cuộc sống. Niềm tin của nhân dân ta với Hồ Chủ tịch là niềm tin về lý tưởng mà Cụ đã đứng đầu rèn luyện toàn đảng và toàn dân noi theo.

Tại sao trong nhà tù đế quốc Mỹ, một người nông dân già tên Ngọc bị bắt ra chào cờ chính quyền Sài Gòn và tuyên bố từ bỏ Cụ Hồ nhưng ông đã khước từ bất chấp mọi sự đàn áp. Tên cai tù hỏi ông duyên nợ gì với Hồ Chí Minh mà không ra từ biệt. Nếu biết ông không phải Cộng sản chúng tôi thả ngay.

Ông trả lời: "Tôi và con cháu tôi suốt đời không bao giờ trả hết nợ với Hồ Chí Minh vì ông ta đem lại độc lập tự do cho tôi và con cháu mai sau". Khi người dân được hưởng quyền đó bằng hiện thực thì họ giữ niềm tin và bảo vệ đến cùng cái đảng, nhà nước đã lãnh đạo tổ chức đưa lại các thực tiễn cuộc sống của niềm tin ấy.

Cụ Hồ nói rồi, nếu không phát triển điều thiện, không làm tốt hơn, dân không còn tín nhiệm nữa, hãy coi chừng.

Chính cụ Hồ cũng đã nói, khi một đất nước sống vì mục tiêu ấy, chỉ đạo thực hiện mục tiêu ấy, với niềm tin ấy và thực thi bằng pháp luật, quản lý cho chặt chẽ thì chắc chắn dân sẽ theo.

Bây giờ mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh phải đưa vào thực thi trong cuộc sống và các cơ quan quyền lực có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm trước. Lãnh đạo phải đi đầu rèn luyện và tổ chức quốc dân làm điều đó. Khi đó niềm tin sẽ được củng cố và người dân sẽ theo, các nhược điểm hiện nay sẽ khắc phục dần.

ĐBQH Dương Trung Quốc: Chữ niềm tin được Cụ Hồ định nghĩa rất hay. Khi Cụ đi khảo sát tình hình chuẩn bị đánh Pháp ở Hà Nội, Cụ hỏi các đồng chí phụ trách quân sự: chúng ta có quyết tâm không? Ai cũng nói quyết tâm. Nhưng Cụ bảo quyết tâm chưa đủ, phải tín tâm thì mới đồng tâm được. Tín tâm chính là lòng tin thực sự.

Nếu chỉ nghĩ về lòng tin như một lý tưởng, lý thuyết thì đó là chuyện cao xa. Tôi xin nói rằng một thế hệ lớn các chiến sĩ cộng sản chắc họ không đọc Mác-Lênin nhiều đâu, nhưng họ nghĩ Đảng phục vụ cho một mục tiêu cao cả là giành độc lập dân tộc, chống Pháp, chống Nhật, và nói đến một tương lai mà họ mong muốn vươn tới, vượt ra ngoài hiện thực họ đang sống.

Tôi vừa đọc một tài liệu ở nước ngoài của một viên quan cai trị người Pháp viết khi về hưu. Chính ông ta là người đã tổ chức việc xử tử hình các vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Bản báo cáo đầu tiên ông ta viết cho Toàn quyền Đờ-cu, ông nói chúng ta đã chứng kiến một cái chết rất dũng cảm của những người bị xử bắn. Viên Toàn quyền vặc lại tại sao với những tên phản loạn ông lại dùng chữ dũng cảm. Ông trả lời là lần sau chúng tôi lại chứng kiến, một cái chết, nói đầy đủ hơn là rất dũng cảm, họ không thèm bịt mắt và chính những người bắn họ phải cảm thấy xấu hổ. Sau đó ông quan này bị cách chức.

Tại sao lúc đó người dân tin Đảng? Vì lúc đó, lãnh đạo Đảng là những người không run sợ trước hòn tên mũi đạn, là những tấm gương thực sự. Đối với người phương Đông, tấm gương rất quan trọng. Thậm chí người ta còn lồng vào tấm gương những ý tưởng, niềm tin tôn giáo. Chúng ta đừng nghĩ rằng người dân nói chung có khả năng tiếp cận học thuyết lý thuyết. Trong khi đó, chúng ta hiện nay đang nói rất nhiều đến lý thuyết, nhưng tấm gương trước mắt lại chưa tương xứng với lý thuyết ấy và càng chưa tương xứng với những gì Cụ Hồ dạy bảo. Mất lòng tin là ở chỗ ấy thôi.

Tại sao Bác Hồ luôn tự biến mình thành tấm gương? Bác nói một tấm gương còn hơn rất nhiều bản diễn thuyết. Bác viết những điều đó khi còn rất trẻ trong các bài báo thời ở Pháp. Sau này cuộc đời của Bác cũng đúng như vậy. Một nhà báo nước ngoài nói rằng cụ đi đôi dép cao su, không phải cụ lập dị mà cụ muốn nhắc nhở mọi người đất nước còn nghèo như thế và một người ở cương vị như cụ phải làm như thế.

Tôi nghĩ đó là những chuyện chúng ta nói rất nhiều mà chưa làm. Chỉ nhìn vào đời sống hàng ngày sẽ thấy sự giảm sút lòng tin. Người dân chẳng phân tích những học thuyết xa xôi xem chúng có còn hợp thời không, mà đơn giản họ chỉ nhìn vào người lãnh đạo. Chính vì thế, trong một chừng mực nào đó, tôi rất tán thành cuộc vận động học và làm theo gương Bác Hồ vĩ đại, nhưng học và làm như thế nào mới là quan trọng.

Học Bác là nói ít làm nhiều, lời nói đi đôi với việc làm

ĐBQH Dương Trung Quốc và Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn tại bàn tròn trực tuyến. Ảnh: Lê Anh Dũng.
Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Độc giả Nguyễn Quang Thạch đồng cảm với ý kiến Bác Hồ là con người của hành động, lời nói và việc làm của Bác đi liền với nhau. Chính vì thế mà mọi người đều tin yêu và hành động theo Bác. Độc giả này đặt câu hỏi vì đâu mà xã hội ta bây giờ, người nói thì nhiều mà người có sản phẩm cho xã hội thì ít. Giải pháp vĩ mô nào để tăng người làm và giảm người nói trong giới trí thức và công chức nhà nước để các di nguyện của Bác Hồ được đáp ứng phần nào?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Thực ra tôi nghĩ câu hỏi này nên gửi cho các nhà lãnh đạo, còn chúng tôi là những người có thể chỉ suy nghĩ dựa trên địa vị xã hội của mình, do đó những ý kiến của chúng tôi rất có thể lý thuyết. Chính những người thực thi mới là quan trọng vì tính hiện thực trong tư tưởng của Bác là rất rõ ràng.

Ở đây, chúng ta không nói là một sự tiếp cận duy ý chí như mong muốn, nhưng nếu theo dõi kỹ các hành xử của Bác thì thấy Bác đều thể chế hóa, pháp luật hóa những tư tưởng ấy.

Ví dụ, cuối năm 1945, sau khi ký sắc lệnh về bộ máy hành chính, thì ngay sau đó Bác ký hai sắc lệnh tiếp theo là Sắc lệnh thành lập Ủy ban thanh tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt, để điều tiết chính những bộ máy mà chúng ta đặt ra. Lúc đó, Bác mời vào Ủy ban thanh tra đặc biệt hai nhân vật, một là cụ Bùi Bằng Đoàn, cựu thượng thư bộ hình, vì đây là con người có học và biết việc hành chính, biết cách điều hành, hai là nhà thơ Cù Huy Cận, thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, vì đây là một người trẻ và có uy tín xã hội. Bên cạnh đó là một Tòa án đặc biệt mà Chủ tịch nước sẽ là Chánh án, hội thẩm là Bộ trưởng Bộ nội vụ.

Thế nên nói đến Bác Hồ đừng chỉ xem xét những lời nói. Ngay cả việc làm cũng không chỉ là hành xử cá nhân mà đi cùng là cả một thể chế kèm theo để biến thành hiện thực đời sống và đưa vào khuôn khổ pháp luật. Đấy mới là sự bền vững.

PGS Lê Mậu Hãn. Ảnh: Lê Anh Dũng.
PGS Lê Mậu Hãn: Tổ chức Tòa án hồi đó quy định rất đặc biệt, có toàn quyền, làm trước báo cáo sau, vì tình hình lúc đó cấp bách. Nay ta bình thường rồi nhưng những suy thoái trong xã hội, những tham nhũng phá hoại vẫn là nguy cơ lớn. Đã đến lúc pháp luật phải thực thi như tinh thần của cụ Hồ "trăm điều phải có thần linh pháp quyền", pháp quyền phải thực thi ngay trong cuộc sống, nếu không thì chỉ nói nhiều mà không làm.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Độc giả Nguyễn Văn Mạnh ở Huế hỏi rằng: Bác là người học tất cả các tinh hoa của thế giới,học mọi điều hay ở mọi nền văn hóa, là hiện thân đặc sắc của dân tộc Việt Nam, là biết dung hợp. Nhưng dường như bây giờ chúng ta chỉ nêu lên học một vài nước này nước kia, có những nước có những điểm ta cần phải học thì ta vẫn ngại, vậy đã đúng với cách làm của Bác chưa?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Vế đầu thì hoàn toàn đúng, tôi chia sẻ tán thành, rằng Bác là người biết cách học và quan trọng nhất là biết học để làm gì. Điều này Bác cũng nhiều lần dạy cho đồng bào, cán bộ. Nhưng trong thời đại hôm nay, học gì, tôi nghĩ lại có nội hàm khác. Mà quan trọng nhất là mục tiêu học để làm gì? Học Bác Hồ là học ở điểm đấy.

Chúng ta cũng tiếp nhận tri thức của nhân loại để phục vụ cho mục tiêu chung, cũng là của Cụ Hồ: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Học không chỉ công nghệ, kỹ thuật mà học cả văn hóa, lối sống. Đây là bài toán nói thì dễ, làm thì khó. Ngay chúng tôi ngồi dự bàn tròn này cũng nghĩ trong bụng: nói thì dễ chứ đưa vào đời sống thì khó.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn Trần Việt Hưng ở Hà Nội hỏi rằng Bác Hồ là người chân thật trong nói và làm (nghĩ sao nói thế) nhưng tại sao hiện nay trong đảng ta vẫn còn tình trạng một số cán bộ đương chức đương quyền thì nói khác, còn khi nghỉ hưu lại nói khác? Như vậy có thực sự đúng chúng ta đã học và làm theo Bác hay không?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Đó là hiện tượng có thực, để giải thích hiện tượng này cũng không đơn giản nhưng tôi nghĩ là có thể tìm ra được một phần nào đó ở 2 yếu tố: cơ chế, cơ chế có thể thể hiện ngay trong cái ta vẫn gọi là ý thức tổ chức.

Nhưng có điều là đôi khi những tổ chức lại đi ngược lại với yếu tố ta gọi là dân chủ. Ta phải thừa nhận dân chủ là một công cụ cho sự phát triển.

Thứ hai là vấn đề lợi ích. Tôi nghĩ rằng chúng ta đừng thoát ly ra khỏi thực tiễn, chính lợi ích luôn luôn chi phối mỗi người chúng ta trong đời sống.

Tại sao năm 45 - 46, có những người bỏ nhà bỏ cửa, mang cả một khối lượng tài sản rất lớn ủng hộ cách mạng, đấy là chưa nói đến các sinh mạng của mình. Có phải vì lúc đó lợi ích hình như rất gần gũi nhau, có mục tiêu chung là niềm khao khát độc lập tự do, và những ước vọng về một viễn cảnh mà chúng ta hy vọng sẽ đạt tới bằng chính sự hy sinh của mình.

Nhưng bây giờ thì điều đó hơi khó bởi chúng ta không có một mục tiêu chung hoặc mục tiêu chung đó rất là mơ hồ. Ở đó người ta chưa tìm thấy lợi ích chung trong lợi ích riêng, nhất là trong cơ chế hiện nay khi chúng ta đang ở trong một thời kỳ cùng với cái gọi đổi mới tức là một sự xáo trộn nhiều hệ thống giá trị và tạo ra rất nhiều những cơ hội có tính chất tình huống. Hình như mọi người đều cảm thấy cơ hội này sẽ không lâu dài cho nên luôn luôn muốn tạo ra một lợi ích riêng cho mình, hơn là tìm lợi ích chung của cả nước.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đặt ra vấn đề lợi ích riêng - chung, dường như có mâu thuẫn không khi mới đây chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định kinh tế Nhà nước là chủ đạo và đóng vai trò quan trọng nhất, biểu hiện như các doanh nghiệp Nhà nước sở hữu phần lớn tài nguyên quốc gia. Chắc chắn cơ chế đó khó lòng giải quyết được thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với tập thể. Như vậy liệu có phải chúng ta đi ngược lại những nhu cầu xã hội cũng như tâm tư suy nghĩ hành động của con người hôm nay không?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Đến bây giờ, thú thực tôi vẫn chưa hiểu thế nào là Chủ nghĩa xã hội.

Chúng ta đưa ra một khái niệm là định hướng xã hội chủ nghĩa. Nên hiểu rằng đó là chúng ta hướng tới một mục tiêu, một lý tưởng còn cụ thể làm thế nào thì chúng ta còn phải tìm tòi thực tiễn đời sống. Nếu bây giờ chúng ta cứ lạm dụng chữ chủ nghĩa xã hội sẽ trở thành điều gì mơ hồ.

Có thể, mỗi người hiểu một cách khác nhau, đó là điều rất nguy hiểm, bởi nó dẫn đến sự phân tâm trong đời sống. Người nào cũng giải thích nó theo kiểu hướng có lợi cho mình. Định hướng xã hội chủ nghĩa tôi cho là có ý của nó là chúng ta cùng nhau tìm.

Chúng ta có sửa sai nhưng ít khi dám nhận sai

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhân câu trả lời của ĐBQH Dương Trung Quốc, độc giả Nguyễn Thanh Hằng ở Vinh có hỏi dường như từ chủ nghĩa xã hội đang được dùng rất nhiều nhưng chúng ta chưa làm rõ nội hàm của nó và chúng tôi cảm nhận đôi khi chúng ta giương câu đó ra như cái mộc để che chắn bản thân, để không bị quy chụp. Liệu cảm giác này đúng hay sai?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Tôi nhắc lại điều Cụ Hồ nói là: chúng ta đang xây dựng một chế độ mới, không có mẫu hình sẵn. Chúng ta phải đi tìm, bằng năng lực của mình. Quan trọng là biết sửa chữa khuyết điểm. Ở góc độ người làm sử, tôi thấy sửa chữa khuyết điểm rất là khó và nhận khuyết điểm càng khó hơn.

Nguyên do là chúng ta đã không đặt đúng mức vấn đề trách nhiệm cá nhân. Mà một xã hội không có trách nhiệm cá nhân thì rất khó có thể tiến lên một cách bền vững, thậm chí có thể trả giá cho sự quanh co, vòng vèo, làm chậm đi rất nhiều sự phát triển. Tôi thấy đó là điều tương đối rõ trong đời sống từ việc lớn cho đến việc nhỏ.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng Bác của chúng ta sẵn sàng nhận sai và đã từng nhận khuyết điểm trước quốc dân đồng bào về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Sau này, chúng ta đã có nhà lãnh đạo nào đứng ra nhận khuyết điểm như Bác và chịu trách nhiệm trước quốc dân đồng bào như Bác hay chưa?

ĐBQH Dương Trung Quốc: Chúng ta đã có sửa sai, nhưng lại ít khi nhận sai bởi vì nó liên quan đến một giá trị nào đó mà mỗi con người phải giữ cho mình bằng mọi giá, bởi vì đương nhiên chẳng có ai đi so sánh với Bác Hồ. Bác Hồ là con người của một thời kì lịch sử, một sản phẩm của lịch sử. Còn con người hiện nay của chúng ta lại luôn đứng trước một cơ chế mà lợi ích là thượng sách cho nên không bao giờ muốn nhận cái sai về mình.

Tôi cho rằng các nhà lãnh đạo đã sửa sai rất nhiều, nếu không làm sao chúng ta đổi mới được như ngày hôm nay. Tuy nhiên, điều đáng e ngại nhất là chúng ta không dám nhận sai, tức là chúng ta còn thiếu tự tin.

(còn nữa)


"Nếu xa dân thì chúng ta không còn lí do gì để tồn tại”: "- Sent using Google Toolbar"

Tuesday, December 14, 2010

Việt Nam ơi, tại sao?

Nếu mỗi công dân chúng ta mơ về một Việt Nam được tôn trọng bởi tính trung thực, bởi lòng yêu thương con người, bởi những con tàu ra đại dương, bởi những tàu vũ trụ và chúng ta kiên trì hành động với tinh thần của ông thợ mộc và con cháu ông thì 50 năm sau một công dân của một đất nước nào sẽ gọi tên Việt Nam với sự thán phục và tôn trọng như chúng ta gọi tên Hàn Quốc và Nhật Bản như bây giờ.

LTS: "Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?" trong khi Hàn Quốc, cũng xuất phát điểm như ta, nghèo tài nguyên như ta, giờ đã là cường quốc? Câu hỏi này đã đánh động đến tâm thức của nhiều bạn đọc. Bài viết dưới đây của độc giả Nguyễn Quang Thạch, cố gắng trả lời câu hỏi này từ quan điểm riêng của mình, thông qua những quan sát từ đời sống. Có thể những quan sát này của tác giả chưa hẳn đã bao quát và toàn diện, song cũng là một góc nhìn riêng đáng chú ý. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Vài nét về người viết: Nguyễn Quang Thạch là tác giả của sáng kiến xây dựng các tủ sách dòng họ ở những vùng nông thôn Việt Nam, với mong muốn mọi người Việt yêu sách, ham đọc sách. Sáng kiến của anh đã được nhiều người hưởng ứng và thực hiện được trong thực tế.

>> Tại sao, Hàn Quốc?
>> Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?

Những câu hỏi mà Người quan sát đặt ra trong bài Tại sao, Hàn Quốc? tương tự những bậc đại trí của dân tộc cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh... đã đặt ra trong thế kỷ trước. Các cụ đã nhận diện ra những đặc tính xấu và yếu kém mà người Việt cần học người Nhật hay phương Tây để thay đổi nó.

Tiếc thay, lý thuyết khai trí phục quốc và kiến quốc của cụ Phan Chu Trinh đã không thể thành công khi một quốc gia nô lệ với trên 95% dân số mù chữ. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã hiện thực hóa ý tưởng của cụ Phan Chu Trinh một cách khôn khéo và đồng tồn được với Pháp quốc gần 20 năm và đã tạo nền tảng khai trí cho người Việt bằng đơn giản hóa chữ quốc ngữ cũng như phổ biến tri thức cho nhân dân thời đó. Nỗ lực của cụ Vĩnh không "chết yểu" như cụ Phan và di nguyện của cụ đã được tiếp tục từ năm 1945 khi chính phủ Cụ Hồ ra đời.

Khởi nguồn từ phong trào bình dân học vụ với những trí thức được Pháp đào tạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã giúp cho hàng triệu người biết chữ. Thành tựu to lớn từ phong trào bình dân học vụ và giáo dục đại chúng đã giúp cho những tá điền và con cái họ biết chữ, có cơ hội học hành lĩnh hội tri thức phục vụ kháng chiến sau này.

Cái được lớn nhất mà chế độ mới đã giành được là tạo ra nền giáo dục đại chúng, ai ai cũng được học hành. Con cháu của những tá điền làm việc cho gia đình tôi trước năm 1954 của thế kỷ trước bây giờ đã trở thành kỹ sư, thạc sỹ và có người là tiến sỹ.

Tôi đã đặt câu hỏi nhiều lần tại sao trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ, mặc dầu dân trí rất thấp so với bây giờ nhưng lại có đủ trí tuệ để chiến thắng với những đế quốc hùng mạnh? Tại sao bây giờ số lượng kỹ sư, cử nhân và tiến sỹ nhiều gấp hàng chục lần ngày xưa lại chưa góp phần đưa đất nước ngang bằng những nước vốn thiếu điều kiện phát triển như Hàn Quốc, Singapore lúc trước...?

Thực tế trải nghiệm cuộc sống của một công dân sinh ra sau chiến tranh, tôi thấy rằng đất nước chúng ta đã vượt trước năm 1945 nhiều lần nhưng chưa thể bứt phá theo đúng tiềm năng sẵn có mà ít quốc gia khác có được với những nguyên nhân sau.

Chấp nhận sự dối trá và cổ vũ ăn cắp, tham nhũng

Bức tranh đám cưới chuột và câu nói "quan tham dân gian" là những minh chứng phản ánh sự chấp nhận và thừa nhận thói dối trá và cổ vũ cho thói ăn cắp và tham nhũng đã nằm trong tâm thức dân chúng tự ngàn đời xưa.

Vậy còn thời nay thì sao? Bi kịch thay là nạn tham nhũng đang được nhiều người dân từ công chức cổ cồn trắng, quan chức lẫn người dân ngoài bộ máy hành chính, theo một cách nào đó, "cổ vũ" khắp nơi.

Xin đơn cử vài những hành động biểu thị sự cổ vũ đó:

- Các cán bộ cấp trên xuống làm việc với cấp dưới thường hoặc phải được đối đãi "tử tế" bằng tiệc tùng xa xỉ và phong bì mang về.

- Bạn bè gặp nhau bằng các bữa tiệc và kẻ chi tiền phần nhiều là những kẻ đục khoét tiền do dân đóng thuế thông qua các công việc đáng lẽ phải làm để phục vụ cộng đồng. Đám bạn bè được chiêu đãi đang tán dương và cổ vũ "tài ăn cắp" của ông bạn mình.

- Vào bệnh viện, ngoại trừ những người quá nghèo, đều chấp nhận cống nạp cho bác sỹ để mong được chăm sóc theo đúng quy định, vân vân và vân vân.

- Qua gặp cán bộ địa chính làm sổ đỏ cũng lại lót tay chút đỉnh cho việc mau chạy....

Hành vi lẫn thói quen cổ vũ tham nhũng đã tạo thành dây xích mà các móc xích vừa to lớn vừa bị ô xy hóa làm cho chúng ta khó thấy được những giá trị thuần kim loại. Thói quen chấp nhận hành vi cũng như cổ vũ tham nhũng đã và đang biến các sợi dây nhỏ mà chính chúng ta không nhận ra thành những sợi dây lớn mà chính chúng ta không thể phá bỏ nó.

Thực trạng tham nhũng của đất nước ta hiện nay là những siêu dây mà chỉ có thể phá bỏ nó khi mọi người dân coi trung thực là yếu tố nghiễm nhiên của đời sống.

Không dám đối mặt với chính mình, thích tô vẽ và háo danh

Giữa thế kỷ 19, người Nhật, một đất nước bị ảnh hưởng khá nặng bởi tư tưởng Khổng Giáo đã dám đối mặt với thực tế là nhìn nhận những khuyết thiếu của dân tộc họ để thay đổi. Người ta dám thừa nhận rằng người Nhật có thần dân chứ không quốc dân Nhật, nghĩa là người ta thừa nhận sự thiếu tinh thần dân tộc trong mỗi công dân. Khi đã nhận ra những khuyết thiếu của chính mình nghĩa là người ta dám thay đổi chính mình và người Nhật đã phi Hán hóa và thoát Á từ đó. Họ đã trở thành cường quốc.

Người Hàn Quốc từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước cũng đã thừa nhận sự yếu kém của mình và tìm đường đi cho mình với sự đồng thuận trong phong trào Saemaul Undong, một phong trào đã đưa nông dân Hàn Quốc ra khỏi đói nghèo và là nền tảng cho cuộc cách mạng cộng nghiệp.

Chính phủ Hàn đã xuất khẩu con người để nhập khẩu tri thức, nghĩa là hàng trăm ngàn du học sinh, giáo sư đã sang Nhật, Mỹ và châu Âu để đi "ăn mày tri thức" trong hơn 20 năm trời.

Việt Nam chúng ta thì sao? Chúng ta vẫn còn nặng tâm lý và thói quen tô vẽ chính mình và không dám nhìn vào chính mình. Xin hỏi có bao nhiêu công dân chúng ta dám thừa nhận mình kém, bao nhiêu lãnh đạo chúng ta thừa nhận thực tế để thay đổi như anh hùng Kim Ngọc? Bao nhiêu người chỉ dám nhận danh khi danh đấy là chính danh? Bao nhiêu người được tán dương là chuyên gia hàng đầu trong ngành này ngành nọ nhưng xin hỏi cái hàng đầu kia có bán ra chợ thế giới được không?

Có ấn tượng, ở nhà cha mẹ con cái tô vẽ lẫn nhau; đến trường chúng ta tô vẽ những điều xa rời thực tế; đến cơ quan, sếp và nhân viên tô vẽ nịnh bợ lẫn nhau.

Quan niệm "tốt khoe, xấu che" là một thứ sai lầm vì cái xấu kia sẽ trở thành vô cùng xấu và lấn át hoặc giết chết cái tốt đẹp lúc nào không hay.

Thiếu đoàn kết, ghen ăn tức ở

Thói xấu "trâu buộc ghét trâu ăn" ngày càng phát triển. Câu chuyện 3 người Việt rơi xuống hố và cùng chết ở dưới hố là sự đúc kết đáng để chúng ta phải suy ngẫm.

Chúng ta thường tự hào chúng ta đoàn kết nhưng mỗi chúng ta còn ghen ăn tức ở, còn dối trá, còn thích tô vẽ và được tô vẽ, còn thích danh hão...thì đoàn kết ở chỗ nào? Khi mỗi cá nhân còn muốn vơ cho mình những thứ không chính danh thì làm sao chúng ta mong có được đoàn kết thực sự. Có chăng, đó chỉ là cái vỏ đoàn kết che đậy sự chia rẽ bên trong.

Nhiều lý thuyết, kém hành động, yếu thực hành

Những năm tháng làm công chức của tôi ở đâu cũng nghe thuyết giảng về điều hay lẽ phải, được nghe những thứ cao siêu về kỹ thuật cầu đường nhưng tiếc rằng các sản phẩm lại là những người công nhân và kỹ sư bám hiện trường.

Rồi có nhóm người nữa thì suốt ngày ngồi chỉ trích cái này cái kia nhưng bản thân chỉ có hành động nào để thay đổi thực trạng mà họ chỉ trích.

Cái sự học mà không hành đang nhan nhản khắp mọi nơi. Có kỹ sư cơ khi lên mặt dạy cho anh thợ hàn bậc 5 hàn dầm thép của cầu. Hãy hàn như thế này, hãy hàn như thế kia. Đến khi anh thợ cầu đưa que hàn cho hàn thì anh kỹ sư loay hoay cả tiếng đồng hồ không làm được..

Thiếu tiêu chuẩn sống

Thời phong kiến, người ta có tiêu chí sống rõ ràng gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Những tiêu chí này là giới hạn để mọi công dân khi sinh ra và lớn lên cần hướng tới tiêu chuẩn đó. Hiện nay có cảm giác hình như chúng ta đang thiếu vắng nhiều những tiêu chí đó. Nhiều khi, xã hội đánh đồng sự thành đạt đồng nghĩa với giàu có và chức vụ. Khi sự giàu có và danh vọng nằm ngoài giới hạn của đạo đức, lòng nhân ái và trách nhiệm làm người thì đừng mong đất nước đó được tôn trọng.

Một đất nước có nhiều điều khuyết thiếu như nêu trên liệu đất nước ta có thay đổi được không?

Tôi có đọc truyện "Người xây ngôi nhà trong giấc mơ", chuyện dài nhưng tôi xin tóm lược như thế này:

Có người đàn ông ly quê 11 năm và đã học được nghề mộc. Sau khi về làng, người thợ mộc lại tiếp tục hành trình 10 làm thuê nhưng hầu như ông không lấy công bằng tiền mặt mà chỉ xin chủ nhà cho mình một khúc gỗ dài ngắn khác nhau tùy theo công của mình. Đêm đêm, ông đục đẽo những khúc gỗ thành từng bộ phận của ngôi nhà theo giấc mơ của mình chính xác một cách tuyệt vời.

Mười năm sau ông dựng lên ngôi nhà mà người thường mơ thấy cả trong những năm tháng đói nghèo tha phương. Một ngôi nhà gỗ mái ngói bảy gian. Đó là một ngôi nhà rất lớn thời đó.

Khi khánh thành nhà, người anh thúc bá với ông thợ mộc cầm chiếc ba-toong khệnh khạng bước đến đập vào mái nhà ông và nói: "Chúng bay định xây nhà to hơn người khác à. Rồi chúng bay cũng bán nhà và đi ăn mày thôi. Thớ chúng bay không được ở nhà cao cửa rộng ". Ông thợ mộc không nói một câu gì mà chỉ cầm miếng ngói vỡ cài dưới mái nhà nơi ông tôi nằm ngủ. Ông thợ mộc làm vậy để đêm đêm mỗi khi đi ngủ nhìn thấy miếng ngói vỡ mà nhớ đến lời rủa độc của người anh thúc bá để dù chết cũng không bán ngôi nhà.

Theo di nguyện của ông, đến đời con và cháu của ông thợ mộc kể trên không những không bán ngôi nhà mà còn làm một ngôi nhà to hơn ở bên ngôi nhà trăm tuổi đó. Tư tưởng của ông thợ mộc đã giúp cho con cháu và dòng tộc trường tồn và hùng mạnh.

Nếu mỗi công dân chúng ta mơ về một Việt Nam được tôn trọng bởi tính trung thực, bởi lòng yêu thương con người, bởi những con tàu ra đại dương, bởi những tàu vũ trụ và chúng ta kiên trì hành động với tinh thần của ông thợ mộc và con cháu ông thì 50 năm sau một công dân của một đất nước nào sẽ gọi tên Việt Nam với sự thán phục và tôn trọng như chúng ta gọi tên Hàn Quốc và Nhật Bản như bây giờ.


Việt Nam ơi, tại sao?: "- Sent using Google Toolbar"

Wednesday, December 1, 2010

Khả năng sáng tạo của người Việt (Nguyễn Hoàng Đức)

Tìm thông tin

Khả năng sáng tạo của người Việt (Nguyễn Hoàng Đức) In Email
Thứ năm, 02 Tháng 12 2010 10:30

Mấy tuần nay tôi “phát hiện” ra một tác giả luận bàn về văn hóa và tính cách người Việt rất hay. Tác giả đó là Nguyễn Hoàng Đức, hình như ở Hà Nội. Viết về văn hóa thì đã có nhiều người, viết về thói hư tật xấu của người Việt cũng có không ít người, và mới đây nhất là Vương Trí Nhàn. Nhưng Nguyễn Hoàng Đức rất khác với các tác giả khác, vì anh phân tích đến nơi đến chốn, và tuy còn vài điều phải bàn lại nhưng nhìn chung là thông minh.

Trang chungta.com có một sưu tập những bài viết của Nguyễn Hoàng Đức. Một trong những bài tôi thích nhất là bài dưới đây. Tôi “rinh” về để làm tài liệu tham khảo, và cũng để giới thiệu với các bạn một cây bút sắc sảo. Nguyễn Hoàng Đức cũng là tác giả cuốn sách "Người Việt tự ngắm mình" mà chắc tôi phải tìm mua cho được.

http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/2d9ad218613a4ab1876491bcb4cb4362-Nguyen%20Hoang%20Duc%202.jpg/Nguyen%20Hoang%20Duc%202.jpg

Tác giả Nguyễn Hoàng Đức

NVT

===

Tìm cái mới trong khả năng sáng tạo của người Việt chúng ta

Nguyễn Hoàng Đức

Cái mới không phải là cái cũ, nhưng, luôn đi ra từ cái cũ. Muốn tạo ra cuộc nhảy vọt mới người ta luôn phải xác định nhảy qua cái gì của quá khứ, hay đường rẽ mới luôn bắt đầu tạo khúc ngoặt ngay trên con đường cũ, và một bình minh mới luôn khởi sự mọc lên giữa một bóng đêm tàn. Vậy, hẳn nhiên, muốn đi tìm cái mới, chúng ta luôn phải bắt đầu nhận diện chỗ đứng của mình, con đường của mình, tầm vóc của mình... để sửa soạn một cuộc vượt mình đem theo toàn bộ sức nặng cũ phóng vào giữa lộ trình mới.

Nhận thức mình! Vượt mình! Phóng mình! Và thiêu đốt mình bằng một nguồn nhiên liệu không bao giờ cạn lao trên con đường đã mở của mình, càng xa càng tốt, đó hẳn là cuộc hành trình của kẻ hành hương cái mới trên con đường sáng tạo. Từ Socrates đến Nietzsche, nguyên lý hành hương cái mới có lẽ chưa từng khác đi. Socrates đã mở màn cuộc sửa soạn vượt mình bằng một khởi điểm "Hãy tự hiểu mình" (connais toi - toi même) đến Nietzsche thì nhận thức đó đã biến thành "con người là cái gì đó cần phải bị vượt qua."

Để vượt qua con người cầm bút của chúng ta, những Phạm, Trần, Lê, Nguyễn... chưa một lần bén mảng đến vòng ngoài của hào quang Nobel, chẳng còn cách nào khác hơn để chúng ta làm, là mở màn nhận thức toàn diện về mình, về chỗ đứng, về khả năng, về truyền thống, về dự phóng của mình... mong mở màn bước trên con đường mới tinh khôi và sung mãn. Bởi xuất phát từ nền tảng đó, tôi xin được đề cập những gì cốt yếu mà con người và nghệ thuật Việt Nam sống và trải nghiệm, mong được chia xẻ ở mọi khía cạnh, vừa khả lý vừa khả nghiệm, hay thông cảm, ngõ hầu chúng ta cùng hợp sức tìm kiếm một con đường sáng tạo lớn vì quê hương và cho quê hương.

Do hoàn cảnh thổ nhưỡng, cần vượt qua một chất thể nhu nhược

Nhờ xây dựng một công trình lớn, phải nhập các chủng loại đá từ nhiều nước về, một anh bạn kiến trúc sư của tôi cho biết: sở dĩ, chúng ta phải nhập đá xây dựng, vì đá của chúng ta chỉ chịu đựng được sức ép từ 300-500 kg (trên độ dày cm3?) trong khi đó đá nhập ngoại có thể chịu đựng được sức ép từ 2000-2500 kg. Qua khảo sát kỹ hơn, tôi nắm được, đá của chúng ta mới chỉ ở mức đá vôi - marble (chưa cho vào lửa đã chảy rồi), chỉ có một vùng đá nằm ở khu vực tỉnh Lai Châu mới nhú lên được chút xíu để mớm chân vào hàng đá granit non. Xin quí độc giả đừng vội sốt ruột! Sở dĩ phải đề cập kỹ về đá đôi chút, vì đá là xương của đất. Và dãy núi Hoàng Liên Sơn chạy thành dãy Trường Sơn chính là dải xương sống của miền đất quê hương. Chính vì mang trong mình một cột sống "đá vôi" người Việt ta có thể tạng uể oải, chóng mệt mỏi, chưa học, chưa làm đã muốn nghỉ. Vì thế, cái chí tiến thủ cũng chóng mỏi, không duy trì được khát vọng đi xa. Để hiểu thêm điều này, chúng ta hãy nghe các nhà toán học trong nước tâm sự: Việt Nam đoạt được rất nhiều giải thưởng cao trong các kỳ thi toán quốc tế, điều đó thật đáng tự hào về trí khôn của con em chúng ta. Song có một điều đáng tiếc, chúng ta có nhiều người học giỏi toán như vậy, nhưng lại không có nổi một nhà lý thuyết toán học tầm cỡ. Điều đó chứng tỏ, những con chim đầu đàn toán học của chúng ta mới chỉ đạt tới mức "làm chim công" múa may khoe khéo khoe khôn cho thiên hạ, sau đó tìm một nơi đậu đẹp để an toạ, chứ không muốn bay xa. Chúng ta sắm cho mình một đôi cánh thật lớn sau đó để tìm nơi đậu thật ấm, chứ không phải để phiêu lưu bay vào trong khoảng trời mênh mông giá lạnh.

Mặc cảm là một năng lực giúp con người trở thành vĩ đại. Chẳng phải một Napoleon đã mang theo mặc cảm đảo Corse trên suốt con đường trở thành hoàng đế của mình? Chẳng phải nước Anh từng mang nỗi tủi hờn về một xứ Anglo-Saxon bị người Norman khai hoá mà cố trở thành vương triều văn hoá? Và chẳng phải một nước Pháp vẫn mang nặng mặc cảm thất thủ nơi chiến luỹ Maginot trong cuộc chấn hưng sức mạnh của mình? Bởi thế, khi đề cập đến thổ nhưỡng "núi chưa cao sông chưa sâu" của quê hương, không có nghĩa là nói xấu Tổ quốc rừng vàng biển bạc, mà để gợi lên giữa lòng mặc cảm của chúng ta một sức mạnh muốn khắc phục chính mình. Người Việt vẫn nói "Đã yếu còn đòi ra gió." Không! Để hội nhập giá trị văn chương nhân loại, tất yếu chúng ta phải ra gió, không sợ gió, và đương đầu với gió! Tuy nhiên, phải bằng cách biết và lượng sức mình. Yếu hơn người thì phải chăm hơn người, "năng nhặt có ngày chặt bị." Ông cha ta đã để lại bài học: Phải miệt mài cắm cổ chạy như rùa thì mới mong thắng thỏ. Chứ đã chậm như rùa, lại vừa đi vừa tự ngắm mình, thỉnh thoảng lại leo lên mô đất cao bận rộn đăng quang mình, thì hòng gì có ngày kịp "thỏ".

Vượt qua cảm xúc bé mọn của nghệ thuật "phên-tre-nứa-lá" nhắm đến cảm xúc bi hùng kịch

Người Việt Nam nổi tiếng về tài bài binh bố trận thiết kế những cuộc thư hùng lẫy lừng lịch sử. Không chỉ thế, cả bi kịch cũng mang nỗi đau độc nhất vô nhị. Nói đâu xa, cuộc chiến dài đằng đẵng trong thế kỷ XX, Việt Nam đã trở thành điểm hội tụ sức nóng của các thế lực cường quốc trên hành tinh: nào chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, nào Liên Xô và Trung Quốc với Mỹ, Pháp, Nhật, Tầu Tưởng... Sau 30.4.1975, khi ngọn cờ "đại thắng" được kéo lên thì cũng là cờ hiệu cho cuộc rút chạy thê lương của một bộ phận dân chúng. Thế mà, cho đến nay, những cây bút "bên này" vẫn chưa viết được cuốn sách nào khả dĩ lột tả nổi tầm vóc của "đại thắng"; còn những cây bút "bên kia" cũng vẫn chưa viết nổi cuốn sách nào cô đúc được bài học của thất trận và bất hạnh. Tất cả mới chỉ dừng ở mức lột tả những tâm trạng, tâm cảm, hay tâm lý hiu hiu, nhè nhẹ, buồn buồn... nổi lên như một khúc kèn lá, hay một bài ca "sến" sướt mướt nào đó.

Quay lại chuyện thổ nhưỡng, một anh bạn làm đàn có kể với tôi: anh bạn đi suốt từ Bắc chí Nam, chọn gỗ, ngâm, phơi để làm một cây đàn dân tộc. Song thật kỳ lạ, bất kỳ khúc gỗ nào đã tẩm ướp phơi khô xong, khi gõ chỉ vang lên tiếng ngũ cung. Cuối cùng anh bạn chợt nhớ ra, ngay những chiếc đàn đá, đục khoét từ giữa vách núi, khi gõ lên cũng chỉ có ngũ cung (không cứ Ta, cả Tầu cũng vậy). Điều đó nói lên tâm hồn nghệ thuật của chúng ta từ trong thể chất vang lên đã khá nghèo nàn. Nhiều nhạc sĩ cả đời chỉ sáng tác được một giọng thứ hay một giai điệu na ná nào đó. Không khí nghệ thuật của quê hương thực tế còn khá nghèo và khá yếu. Bởi vậy, giới nghệ thuật trong nước đã đặt tên rằng: "nghệ thuật của chúng ta còn rất Phên-tre-nứa-lá."

"Phên-tre-nứa-lá" là gì? Chẳng hạn như một chiếc đàn Krông-pút được làm bằng những ống nứa chặt "ngẫu nhiên" ở trên rừng, và người chơi biểu diễn bằng cách vỗ tay vào. Điều đó nói lên trình độ nghệ thuật của chúng ta còn rất "rừng rú" - nặng bản năng - mới chỉ đạt ở mức hồn nhiên - tự nhiên chứ chưa đạt đến mức siêu tự nhiên. Và, nỗi buồn của tre nứa ngẫu nhiên mọc sổi trên mặt đất được chăng hay chớ làm sao có thể biểu hiện được những đau khổ lớn của con người. Trong khi đó những chiếc kèn đồng hay dây đàn được tinh chế, nấu chảy, và đổ khuôn bằng toàn bộ trí tuệ của con người đã rúc lên những nỗi buồn của những vỉa quặng được hun đúc hàng triệu năm trong lòng đất... Nếu quí vị không thích lối ví von này lắm, thì xin chia xẻ với tôi ý nghĩa biểu tượng của nó. Ngay từ trước công nguyên, người Hy Lạp đã thiết kế lên những nỗi sầu bi kịch, để tạo ra một nghệ thuật bi hùng, nhắm cứu rỗi định mệnh thảm kịch làm người. Trong khi đó, những nỗi sầu của văn chương và nghệ thuật chúng ta mới chỉ ở mức buồn nhớ hiu hiu, rầu rầu tâm trạng, hay bàng bạc nuối tiếc... Tôi tin chắc, đây là một lý do xác đáng, bởi lẽ cho đến nay văn chương và nghệ thuật của ta chưa đủ vóc tâm hồn lớn ngang với những biến cố đã sản sinh ra chúng.

Vượt qua con người tài tử nhắm đến con người chuyên môn

Nhìn nền văn chương Việt Nam thấy nổi lên ngay một tình cảnh bẽ bàng này: Dù các tác giả có nổi tiếng đến mấy chăng nữa, nhưng khi đọc, tra cứu danh tài của họ, thật ít ỏi làm sao! Chưa tìm đã xong! Chưa đọc đã hết. Ngay các tác giả nổi tiếng đương thời cũng chóng qua mau như những thời vụ, vài chục truyện ngắn, một cuốn sách lỡ cỡ giữa khoảng một truyện ngắn dài và một tiểu thuyết ngắn, dăm ba tập thơ mỏng mảnh... Đã thế trong nước, đa số nhà văn, nhà thơ dường như chỉ được phong tên ở giai đoạn đầu ngắn ngủi, sau đó các vị bận chuyển qua làm cán bộ thơ, thủ trưởng văn, hay gác cửa biên tập. Ngoài nước, thì đa số viết văn tài tử, chữ nghĩa chỉ là thứ bán chuyên nghiệp, lúc tiện thì viết. Danh dự chuyên môn của nhà văn rất cao, song danh dự đó cũng là một thách thức rất lớn. Chúng ta đứng trước một thách thức rằng: Chúng ta chưa giỏi, chưa giàu truyền thống, chưa giàu đỉnh cao, vậy mà chỉ viết văn 'nghề tay trái' thì bao giờ mới bằng nhân loại?

Vượt qua con người đời thường nhắm đến con người dấn thân cho nghệ thuật

Vì sao chúng ta mới chỉ viết văn bằng tay trái? Vì chúng ta còn mải lo kiếm sống bằng một nguyên do biện chính đầy mãnh liệt rằng cơm áo không đùa với khách thơ! Sự biện chính không chỉ nằm trong khuôn viên thơ. Điều đó có chính đáng không? Khi chúng ta còn quá bận tâm đến khuôn viên của chiếc dạ dày, thì làm sao còn sức để mở rộng biên giới của khuôn viên văn chương. Một lần, nghe một vài nhà văn của ta cứ ca thán về điều kiện vật chất eo hẹp của Việt Nam, các nhà văn, các nhà khoa học chưa được đáp ứng đầy đủ điều kiện để làm việc, nên chưa có được tác phẩm và công trình lớn, tôi có đáp lại họ rằng: "Nước Đức là nước có truyền thống trọng dụng các nhân tài khoa học, vậy mà quí vị thử xem họ đã bỏ đói Emmnuel Kant như thế nào? Và chính bản thân Kant, ông có bao giờ bị ám ảnh dù chỉ một lần về sự nghèo túng của mình, hay ông chỉ luôn thao thức về những đề tài suy tưởng?" Một lần khác, nghe dăm nhà thơ kêu nỗi lo phải chạy vạy nỗi khó khăn đời nên họ không toàn tâm cho thơ được, tôi có thưa với họ: "Chưa nói đến việc các anh sợ nghèo, chỉ nói đến nỗi cô đơn thôi, các anh đã không một lần dám chấp nhận việc gánh vác nó." Họ đều im lặng.

Nghèo đói, cô đơn là đức dấn thân đầu tiên của nghệ thuật. Đó là chưa kể đến các đức dấn thân lớn hơn cho công chính, tự do, và bác ái... Nếu chúng ta lẩn trốn những con đường dấn thân đó thì nghệ thuật đến với chúng ta bằng ngả nào?

Vượt qua con người bình thường nhắm đến con người đối thoại

Từ cổ đại đến nay, cốt lõi của mọi loại hình nghệ thuật là đối thoại. Đó cũng là yếu tố đầu tiên của mọi văn phẩm mà Aristotle đã chỉ ra là story. Plato nói: "Suy tư là đối thoại, khi một người suy tư, anh ta thủ các vai trên sân khấu trí tuệ của mình. Anh ta hỏi, anh ta trả lời câu hỏi của mình. Rồi anh ta tự đánh giá lấy." Cái yếu đầu tiên của nền văn học chúng ta là kịch tính - bởi vì tính đối thoại yếu! Các nhân vật lờ phờ nói chuyện với nhau, bởi thế không thể đánh lửa lên cho các cuộc xung đột tìm kiếm tâm lý, cảm xúc, sự thật, hay lý tưởng. Hơn cả thế, nền văn chương dậm chân quá lâu tại những kinh nghiệm và quan niệm bởi nó không có được không khí luôn luôn đối thoại để cọ sát trí tuệ. Nhìn qua Âu - Mỹ thấy nền văn học của họ phát triển nhanh nhờ bởi các sinh hoạt đối thoại trí tuệ luôn luôn diễn ra tại các salon văn học. Không đối thoại tức là từ chối trí tuệ, và từ chối sự thẩm giá tác phẩm cũng như không khí sinh hoạt cho nền văn. Một nhà thơ Việt Nam đã ví "các nhà thơ đi đâu cũng giống con ốc cõng theo nhà" vừa từ chối đối thoại, vừa lẩn trốn đối thoại. Là hiệp sĩ thì phải so kiếm mới thấy được tài ba, mong rằng nền văn học của chúng ta sẽ xây dựng được không khí đối thoại để giúp nhau đào luyện và nâng cao bản lĩnh cho bút mực.

Vượt qua những ông thầy

Người Việt có một niềm tự hào và cũng là một nỗi khổ, đó là hiện tượng Nguyễn Du "viết một lần cho tất cả" và "ca ngợi một lần cho xong". Các cây bút hậu thế lúc nào cũng vừa rụt đầu rụt cổ chiêm ngưỡng vừa luôn đem bức tượng đài Lục Bát đó ra làm bảo bối bảo hiểm cho danh dự của cả nền văn học mọi thời và mọi chỗ. Chưa hết, nhiều người còn tự hào về thơ Đường như thơ của dân tộc mình và coi nó như một đỉnh cao đã xây sẵn trong quá khứ chẳng cần xây gì thêm nữa cả.

"Đồ đệ ấy sẽ phản bội thầy, bởi chính đồ đệ ấy cũng có sứ mệnh phải làm thầy."

===

Trả lời bài “Chúng ta chưa có con ngựa văn hoá để cưỡi” của Nguyễn Trần Bạt

Xem thêm:

Trước hết cám ơn tác giả Nguyễn Trần Bạt về bài trả lời rất xúc tích, thẳng thắn, nhiệt tình và rất khả lý này. Đó là bài viết mang tầm của một nhạc trưởng, một kiến trúc sư trưởng. Một người đứng ngoài ngành văn nhưng lại ở trên vọng gác bao quát cả ngành văn, thông hiểu từ trong ra ngoài một cách hết sức bản chất và nguyên lý. Đây là một bài viết tổng quát của một cách nhìn phổ quát.

Tôi rất tâm đắc với mấy điểm chính của tác giả:

1-Tri thức, tầm văn hoá của các nhà văn Việt Nam rất thấp và dù có muốn cũng chưa thể nào cải thiện.

Tại sao: vì các nhà văn Việt Nam rất nóng vội đem mình ra ăn để vinh danh, chưa kịp thu nhập cho đầu vào đã vội vàng nhả tơ ở đầu ra. Có nhà văn còn biện hộ với tôi rằng: chưa chắc đầu vào nhiều đã có đầu ra tốt. Và anh ta muốn ám chỉ rằng dù anh ta học còn sống sít nhưng được ban thiên bẩm để có ít xít được ra nhiều.

2- Nhà văn Việt chỉ thấy tự mãn mà không thấy tự tin.

Theo tôi: Học hành chưa đến nơi đến chốn, lại chăm chắm đòi viết bằng bản năng, thì làm sao dám tự tin.

3- Nền văn hoá Việt Nam chưa phải lúc bàn về giải Nobel.

Thật là chí lý. Có một nhà văn hiện đại viết “Kẻ nào viết văn để giật giải Nobel, sẽ không thể nào giật được”. Giải Nobel hay bất cứ giải nào trên đời, đó chỉ là một giá trị ngang giá tự thân chứ đâu phải một diễn văn “kiễng chân”, “leo thang” hay tự cầm tóc nhấc lên. Tôi mới xem một bài viết về dân tộc Hungary chỉ có chục triệu người mà giật cả mười giải Nobel, thật đáng thán phục thay. Soi vào đó, thấy cái cách nhiều người Việt đi tìm cũng như bàn cách vợt được giải Nobel sao mà thấy nhỏ bé, nhếch nhác, mặc cảm tự ti hãnh tiến làm sao, dường như họ ám thị rằng: khi họ bàn đến Nobel thì có tầm Nobel. Nếu ai đó muốn có tầm nhìn lên các vì sao, thì trước hết không phải chỉ nghĩ xuông mà hãy sắm cho mình một ống kính viễn vọng, sau đó phải trèo lên đỉnh núi – vì đó mới là chỗ xứng đáng để quan sát... Còn ai muốn cắm cờ trên Bắc Cực thì đừng tưởng khoe cái cờ có bao nhiêu mầu, mà hãy sắm áo lông, giầy lông, thực phẩm, và xe kéo để thực hiện cuộc cắm cờ đó. Chứ đừng ảo tưởng ta đã có cờ và cán chỉ còn việc cắm vào Bắc Cực.

Muốn bàn đến tầm Nobel phải đủ kiến thức về hành trình Nobel, giống muốn bàn đến dàn nhạc cổ điển phải hiểu biết hoà thanh, giai điệu, bè, phối khí... chứ đừng có nghĩ ta biết nghe tiếng động tức là có thể bàn về âm nhạc. Beethoven tai điếc nhưng lại sáng tác nhạc giao hưởng, không phải chỉ vì ông nghe thấy mà phải đủ trình độ và ý thức cho điều đó.

Tôi cũng rất tâm đắc, việc tác giả cho rằng: nhà văn ta chỉ loanh quanh đứng ngoài lô cốt chính trị, mon men canh tác trên những cánh đồng không chính thống, thì làm sao có thể có được tác phẩm lớn cho thời đại.

Trình độ người viết và người đọc xứ ta thấp đến mức nào ? Đã bao giờ chúng ta có một cái nhìn nghiêm túc thẳng thắn về mình? Chẳng hạn, tôi dường như chưa gặp một công dân nào ở Việt Nam. Công dân là gì? Là người khao khát học hỏi, hiểu biết, và quan tâm đến chính trị, bởi vì chính trị chính là môi trường cũng như mối ưu tư thường trực trong đời sống của các công dân. Ở ta thì sao, cứ thấy nói đến chính trị thì ù té, xua tay, lảng tránh như thể đó là chuyện của các vì sao.

Trình độ xứ ta chủ yếu là Tam nông: tiểu nông , tiểu trí và tiểu xảo. Chưa kịp viết văn đã loay hoay khôn vặt, co cụm, tụ bạ, canh ty cánh hẩu, cục bộ địa phương, luôn luôn từ chối lý trí và giá trị phổ quát thì làm sao có thể khai sinh những tác phẩm lớn.

Tôi hầu như cũng chưa được gặp những quí ông trưởng thành đích thực , những người biết đề cao người khác như những quí ông để tôn vinh chính bản thân mình, những người luôn chú trọng đến danh dự và uy tín của mình; trái lại tôi gặp những người sẵn sàng mày tao chí tớ, đại từ nhân xưng thay đổi và đánh lấn luôn xoành xoạch, đó là cách tuỳ tiện mà người Trung Quốc gọi là đám hạ tiện. Về điểm này tôi rất bái phục và thông cảm khi thi sĩ Tản Đà than:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con

Khi chúng ta là quí ông thì mới có thể sống cao thượng như những quí ông. Có thể cư xử như quí ông, và viết như quí ông. Ngược lại khi chúng ta là quí thằng thì chỉ có thể sống, đạo đức, sáng tạo như một quí thằng mà thôi. Đó chính là nguyên lý : cây nào sinh trái ấy.

Nhưng có một điểm tôi không đồng ý với tác giả Nguyễn Trần Bạt, dường như ông cho rằng thiên bẩm là món quà viếng thăm chóng vánh của Thượng Đế. Tôi tâm đắc ý tưởng này hơn “Bí quyết của thành công là luyện tập”. Theo tôi, thành công còn mang đầy đủ ý nghĩa hơn thiên tài, vì đó là một thành phẩm đã hoàn bị và tựu thành, giống việc Thiên Chúa dẫn dắt dân Do Thái qua Biển Đỏ vậy. Trước đó là Thiên Chúa, ngang chừng cũng Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa cũng hoàn tựu chính Ngài khi đã làm xong sự kiện Vượt Qua... Thiên tài là một báu vật mang tính cấu năng cũng như cấu thành, giống Mozart hay Beethoven có thể tập đàn 12h hay 16h / một ngày không thấy mệt còn phấn khích, nghĩa là thiên tài đó song hành với họ từng giây từng phút, chứ không phải chỉ ban cho họ lúc biểu diễn trên sân khấu.

Người đàn ông đích thực thì “đấu kiếm” và đối thoại, đó là cách thêm một lần nữa cảm ơn tác giả Nguyễn Trần Bạt, vì chính bài của ông đã khiến tôi “sờ” vào bàn phím để bước vào đấu trường trí tuệ. Cám ơn và hẹn gặp lại.

Hà Nội, 31/08/2009

Chúng ta chưa có con ngựa văn hóa để cưỡi

Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group
Tạp chí Văn Việt, tháng 8/2008

Hỏi: Ông có cho rằng môi trường văn hoá tạo nên tài năng không? Chúng ta biết phong trào Thơ mới đánh dấu một sự bùng nổ thi ca với sự xuất hiện của nhiều tài năng trẻ tuổi như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận... Phải chăng đó là ảnh hưởng của tư tưởng tự do từ nền văn hoá Pháp? Ngày nay, ở đất nước chúng ta không thiếu những người trẻ tuổi có tài, nhưng họ bị thui chột rất nhanh trong môi trường xã hội Việt Nam. Ngược lại, một đứa trẻ đang học ở Việt Nam rất bình thường, nhưng nếu sang một môi trường được giáo dục tiên tiến hơn, như Mỹ chẳng hạn, thì lại vượt hẳn lên.

Trả lời: Hiện tượng bùng nổ do những trạng thái phát triển mới về tự do không phải là hiện tượng chỉ có ở Việt Nam. Thời kỳ Phục hưng, thời kỳ Khai sáng là những thời kỳ làm bùng nổ rất nhiều tài năng, có những người đã trở thành tài năng kinh điển như Michelangelo, Raphael, Shakespeare, Goethe, Rousseau, Voltaire, Montesquieur... Những trạng thái bùng nổ tinh thần tạo ra sự bùng nổ các tài năng là một hiện tượng có thật. Ở Việt Nam cũng có nhiều lúc như vậy.

Phải nói rằng, những tài năng nghệ thuật ở Việt Nam xuất hiện ở nhiều giai đoạn chứ không phải chỉ trong giai đoạn Thơ mới. Tất nhiên giai đoạn Thơ mới là giai đoạn điển hình, ở đấy người ta bắt đầu ý thức về thân phận con người, thân phận dân tộc. Hoàng Ngọc Phách là người bắt đầu viết tiểu thuyết bằng văn xuôi. Văn xuôi thể hiện năng lực tư duy, năng lực cấu trúc, còn thơ thể hiện năng lực sáng tạo ngôn ngữ. Sự xuất hiện của những nhà thơ như Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, hay những nhà văn như Hoàng Ngọc Phách, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam... là hiện tượng bùng nổ các tài năng có thật ở Việt Nam. Chúng ta cũng đừng nhầm lẫn rằng ở trong môi trường hiện nay chúng ta không có tài năng. Tài năng là một trạng thái chứ không phải là một con người cụ thể. Cũng không nên nhầm lẫn tài năng như một con người với tài năng như một trạng thái của con người. Tôi cho rằng, tài năng hay thiên tài là kết quả của trạng thái thần thánh mà con người bắt gặp chứ không phải chính nó. Do vậy, đừng nhầm lẫn giữa tác giả và tác phẩm, cũng đừng nhầm lẫn giữa tác giả và con người ấy. Nếu có thiên tài thì mỗi con người chỉ là quán trọ của những trạng thái thiên tài mà thôi.

Chúng ta tôn trọng trạng thái thiên tài của con người, chúng ta thưởng thức trạng thái thiên tài của con người và chúng ta trân trọng con người. Có những người cụ thể rất bần tiện, ích kỷ, khó tính trong đời thường, nhưng đọc tác phẩm của họ thì người đọc không ngờ có những lúc họ lại có sự biểu đạt đẹp đến thế, có những phát hiện thần thánh đến thế. Những câu thơ của Chế Lan Viên như: "Nhà dân chật, dân lên đây phơi thóc. Thóc của dân che kín mộ anh hùng", đấy là những phát hiện thần thánh! Nhưng Chế Lan Viên không phải là thần thánh. Nói cách khác, những trạng thái thần thánh ngụ tạm ở con người Chế Lan Viên trong những thời khắc nào đó. Trong nhiều bài thơ của ông cũng chỉ có 15 - 20% trạng thái thần thánh như vậy thôi, nhưng đừng xem đó là điều bình thường. Bởi vì con người chỉ cần một trạng thái thần thánh cũng đã ghê gớm lắm rồi. Tôi kính trọng Chế Lan Viên chính bởi những trạng thái thần thánh như vậy.

Tuy nhiên, trạng thái thần thánh chỉ xuất hiện trong một điều kiện, trong một sự hỗ trợ nào đó. Nếu không có tự do thì các trạng thái thần thánh không xuất hiện được, hoặc có xuất hiện thì nó cũng bị méo mó. Sự phát hiện ra các giá trị thần thánh trong một tác phẩm văn học không phải chỉ là công việc của người tạo ra tác phẩm, mà còn có cả sự bức xúc thần thánh của người đọc. Cho nên, không có một sân chơi chung, một sân khấu chung để người đọc, tác giả và phần thần thánh của tác giả gặp nhau thì không thể có sự thức tỉnh về giá trị được.

Vậy cái sân chơi chung ấy là gì? Đó là mảnh đất tự do mà ở đấy người viết mô tả một cách tự do trạng thái thần thánh mà mình bắt gặp và người đọc đọc những thông điệp thần thánh đòi hỏi phải đọc. Nếu xã hội không nhận biết được giá trị thần thánh của một tác phẩm thì làm sao mà tác phẩm ấy đến một cách rõ rệt với cuộc đời được? Nếu không được kích thích bởi tình yêu đối với các giá trị thần thánh thì làm sao tác giả viết ra được? Thực ra cuộc sống luôn luôn khó đối với những người sáng tạo. Voltaire, Rousseau, Pasternak... là những người bị truy đuổi, phải sống lưu vong. Sự bất hạnh không phải là yếu tố ngăn cản sự sáng tạo, mà nguyên nhân chính là sự thiếu tự do. Muốn đi trốn thì phải có chỗ để trốn. Khi một con người sáng tạo không còn chỗ để trốn nữa thì không thể có môi trường để sáng tạo được. Những sáng tạo vĩ đại thường không được hoan nghênh ngay từ đầu, phải có thời gian để chất lượng thần thánh trong tác phẩm gặp gỡ chất lượng thần thánh trong người đọc. Cho nên, tôi nghĩ tự do không chỉ tạo ra sự kiên nhẫn, sự dũng cảm của người viết, tự do còn tạo ra sự thức tỉnh các nhu cầu của người đọc.

Quay trở lại vấn đề Thơ mới. Thơ mới không phải là một hiện tượng, một phong trào thần thánh duy nhất trong lịch sử văn chương Việt Nam. Phải nói rằng, thời đại nào chúng ta cũng có những tác phẩm hay, thời chống Pháp, chống Mỹ và bây giờ cũng vậy. Trong thời kỳ chống Mỹ các tác giả bắt buộc phải khoác lên tác phẩm của mình một đống xù xì nhiều thứ phải đạo. Nhưng với tư cách là một người đọc có hiểu biết, người ta phải chịu khó lột cái áo khoác xù xì ấy ra thì mới đọc được cái chân chất, cái cốt lõi ở bên trong để thấy rằng đó cũng là một giai đoạn thúc bách con người sáng tạo. Chẳng hạn, đọc “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, nếu không biết lột cái tấm áo khoác phải đạo của nó ra thì không thể thấy được giá trị của "Dấu chân người lính". Người ta gọi đó là nền văn học ám chỉ. Cũng có những người sau này buộc phải mặc những bộ cánh rất tội nghiệp để tác phẩm của họ được ra đời, nhưng những thông điệp hay những tia sáng loé lên thông qua những lỗ thủng của cái áo khoác phải đạo của họ đôi khi là thiên tài. Tất nhiên, đọc những tác phẩm của nền văn học có kỷ luật trong thời kỳ chiến tranh và thời kỳ sau này, để tìm ra giá trị thật sự của nó rất vất vả, bởi vì những người viết buộc phải làm những việc có vẻ như hạ thấp mình xuống ngay cả với những giá trị thân thiết nhất của họ. Ví dụ, Chế Lan Viên viết:

Bạn thương mến đừng xua con chim nhỏ
Mỗi câu thơ đều muốn báo tin lành
Đều muốn trút hạt châu vàng khỏi cổ
Mỗi đêm tàn đều muốn hoá bình minh.
Cánh lông dù lạnh lẽo hạt sương đêm
Nhưng sờ xem, dưới lông chim, chim vẫn ấm
Đừng đuổi thơ tôi vì một chút chiều tà nào ngả bóng
Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên…

(Nhật ký một người chữa bệnh)

Tại sao tác giả “Điêu tàn” làm nghiêng ngả cả thi đàn Thơ mới từ năm 17 tuổi lại phải hạ giọng năn nỉ như vậy? Chúng ta thương, chúng ta xót cho những tài năng như vậy buộc phải mặc những bộ cánh không như ý muốn, thậm chí buộc phải tự hạ thấp mình xuống để tồn tại.

Hỏi: Trong Di cảo thơ Chế Lan Viên, bài "Tháp Bayon" cũng có những lời: "Anh là tháp Bayon bốn mặt. Giấu đi ba còn lại đấy là anh. Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc. Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình". Chúng ta thấy rằng, khi Liên Xô đổi mới, dù tác phẩm được in hay không, nhiều nhà văn vẫn viết, mặc dù không được ủng hộ. Đấy là bản lĩnh của nhà văn. Nhưng ở đất nước chúng ta không có chuyện ấy. Sau khi cởi mở hơn với văn nghệ, các nhà văn dường như không có thêm sáng tạo nào đáng kể, ngay cả nhóm Nhân văn Giai phẩm cũng vậy.

Trả lời: Không phải chỉ có nhà văn ở Liên Xô vẫn viết mà các nhà văn của chúng ta cũng viết. Sở dĩ chúng ta không đọc được các tác phẩm thời kỳ này là vì những tác phẩm đáng kể lẫn lộn trong nhiều cái không đáng kể và ngay cả có những tác phẩm đáng kể thì chưa chắc chúng ta biết đến để mà đọc. Tuy nhiên phải nói rằng, trình độ phát triển về văn hoá viết của người Việt chưa thể so sánh với văn hoá viết của người Nga được. Sự nghèo nàn của nhà văn hoặc của một tập thể nhà văn không phải do chính tâm hồn họ nghèo nàn mà do bản thân cuộc sống cũng nghèo nàn. Sự đói kém đến mức cằn cỗi trong cuộc sống hàng ngày cũng giết chết không biết bao nhiêu cơ hội để các trạng thái thần thánh xuất hiện trong tâm hồn của mỗi người viết. Còn hiện tượng

Nhân văn Giai phẩm thì còn có nhiều chuyện để bàn. Những thể nghiệm về cách tân thơ ca của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm... nói cho cùng là nhu cầu tự thân của họ, lúc đầu cũng rất bản năng. Chính sự vụng dại có đôi chút ác ý của một vài người cầm quyền văn nghệ lúc đó làm cho phản ứng của họ trở nên quyết liệt hơn, trở nên đối kháng hơn. Tuy nhiên phải khẳng định rằng cách tân cả nội dung lẫn hình thức là bản năng tự nhiên và lành mạnh của trí thức. Nếu không thế thì không phải là trí thức.

Hỏi: Tôi rất đồng ý với ông về điều ấy. Những nhà thơ như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm vì bị vùi dập, đè nén nên phải co lại, phải nói để người ta không hiểu được. Cuối cùng họ bị đẩy về phía cách tân, chứ thực chất không hoàn toàn như vậy.

Trả lời: "Không hiểu được" như anh nói bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố. Thứ nhất, không hiểu được là vì dần dần chúng ta mất đi cái bản năng tự nhiên để hiểu văn học trung thực. Xã hội không hiểu được văn học trung thực nữa. Cái đau khổ cho người Việt chúng ta là xã hội không còn đủ năng lực để hiểu các giá trị trung thực của văn học nghệ thuật nữa chứ không phải chỉ là “không hiểu được”. Thứ hai là xã hội không còn năng lực hiểu một cách trung thực nên sinh ra hiện tượng người viết viết một cách gian dối, bởi vì người ta biết buôn bán trạng thái không thể hiểu được của xã hội để hy vọng tạo ra cái "thiên tài" của mình. Trong một bài viết trước đây, tôi đã nói rằng, thiên tài là thứ mà người sở hữu nó là người cuối cùng biết về nó. Những "nhà sáng tạo" của chúng ta ý thức được thiên tài của mình trước khi sáng tác, cho nên chúng ta có rất nhiều người "giả vĩ nhân", nói những điều cao cả để hy vọng mình cao thượng, nói những điều bóng bẩy để hy vọng người ta không đọc được bụng mình, và thảng hoặc cũng có những người có ý tốt thì nói một cách cay nghiệt để chọc tức những kẻ mình căm ghét. Nhưng người ta quên mất rằng, trong khi chọc tức những kẻ mình căm ghét thì những người yêu mến mình họ đọc cái gì? Và khi họ đọc cái chọc tức của mình rồi thì họ có còn là kẻ sáng suốt nữa không?

Phải nói rằng, hầu hết các nhà văn nghệ của chúng ta không có điều kiện để tự mình hoàn chỉnh về văn hoá, học vấn và dù có muốn cũng không thể làm được, cho nên, khi viết được cái này thì mất cái kia. Đối với những người đọc chuyên nghiệp thì họ nhận ra ngay tính không chuyên nghiệp hoặc không hoàn chỉnh của người viết.

Hỏi: Tôi là một người đọc rất kỹ nhóm Nhân văn giai phẩm, nhưng nói thực là tôi thấy những sáng tác của họ không phải là những sáng tạo quá ghê gớm.

Trả lời: Tôi nghĩ rằng phải đặt vào bối cảnh lịch sử nhất định thì mới có thể nói về họ một cách công bằng được. Họ là những người viết hiếm hoi xem sự tồn tại giá trị văn chương của mình quan trọng hơn sự tồn tại của chính mình. Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đáng để trân trọng rồi. Hơn nữa, trong tất cả cái mớ hỗn độn và đồ sộ của họ, quả thật có những cái rất đẹp. Tôi biết cái mà anh lên án chính là những thủ đoạn của họ trong việc thực thi các sáng tác để tạo ra vẻ hiền triết khó hiểu. Nhiều người cũng dị ứng với chuyện ấy. Có những người lớn tiếng chỉ trích, miệt thị mọi thứ cũng nghĩ mình là thiên tài, đó thực chất chỉ là những người to gan, mà to gan thì không phải là thiên tài. Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là nhà văn hiện nay được ca ngợi nhiều nhất, cả ở nước ngoài cũng như ở trong nước, nhưng khi đọc xong các tác phẩm của anh ấy, kể cả tác phẩm nổi tiếng là “Tướng về hưu”, phải nói thật là tôi có cảm giác rùng mình vì sự thiếu nhân văn trong việc sử dụng các chi tiết. Tôi là người ham mê văn học cổ điển Pháp, tôi không thấy ai dùng những chi tiết thiếu nhân văn cả. Một trong những di chứng của nền văn nghệ tuyên truyền chính là ưa dùng các yếu tố kích động, mà kích động thì không phải là nghệ thuật.

Hỏi: Trong thơ ca, có một điều lạ là khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì chỉ còn ý chứ điệu thì không giữ được nhiều. Vì các đặc trưng ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau.

Trả lời: Khi tôi đọc thơ của các tác giả phương Tây, tôi không đủ trình độ ngoại ngữ để đọc nguyên bản nhưng bao giờ tôi cũng đọc nguyên bản cho dù không hiểu. Như thơ Heinrich Heiner chẳng hạn, tôi đọc cả bản gốc, lẫn bản dịch. Tôi dùng nguyên bản để thẩm định lại chất lượng dịch thuật, mặc dù tôi không đủ năng lực thưởng thức nguyên bản. Riêng đối với thơ tôi thấy có một đặc trưng rất kỳ lạ, dường như nhịp điệu thông qua ngôn ngữ thơ ký gửi rất nhiều thông điệp. Trước đây, khi còn trẻ, tôi đọc thơ Nazim Hickmet hay thơ Heinrich Heiner do Xuân Diệu dịch, tôi thấy Xuân Diệu dịch cũng được, nhưng tôi muốn thẩm định xem ông ấy dịch bao nhiêu, phóng tác bao nhiêu. Nhưng phóng tác cũng không sao cả, con người đủ bản năng để hiểu thông điệp của tác giả, bất chấp mọi bản dịch. Bởi vì thiên tài là những người chỉ cần tạo ra một nét thôi là làm cho mọi ngôn ngữ đều trở nên thống nhất. Chúng ta không có những nhà thơ như vậy.

Hỏi: Đọc những bài thơ nước ngoài, mặc dù không cảm nhận hết được cái hay của nhịp điệu nhưng chúng ta vẫn nhận thấy đằng sau mỗi bài thơ đều ẩn chứa những ý tưởng rất sâu sắc. Còn thơ ca Việt Nam thì cứ à ơi vậy thôi, nó không có ý, không có nội dung gì cả.

Trả lời: Không phải không có ý mà phải nói thật rằng, chúng ta đôi khi nhầm lẫn giữa ý và cảm xúc. Thơ là ý chứ không phải cảm xúc, cảm xúc giống như cái thìa để nuốt cho gọn cái ý thôi. Tại sao không có ý? Vì ý là sản phẩm của trí tuệ mà để tạo ra sản phẩm của trí tuệ thì buộc phải thông tuệ. Người viết mà học vấn thấp thì làm sao mà có ý được? Bởi vì đây không phải là những ý thông thường mà là những ý mang chất lượng hướng dẫn. Nếu anh nhìn cái gì cũng giống cái gì thì không thể có ý được. Nếu ý mà nông nổi thì tuổi thọ của thơ rất ngắn.

Hỏi: Ở Việt Nam hay ở nước ngoài có những trường hợp là những đứa trẻ ra đời chưa được học hành gì cả, tự nhiên nó có những ý nghĩ rất khác thường. Vậy cái đó từ đâu ra?

Trả lời: Anh lấy gì để đảm bảo rằng người lớn tuổi thì thông thái hơn trẻ con? Tại sao người ta thiền? Thiền là một hoạt động cố gắng để đưa con người về trạng thái trẻ thơ. Con người càng già thì việc đưa mình về trạng thái trẻ thơ càng vất vả. Cho nên sự phát hiện của những đứa trẻ thông thái bất ngờ hơn nhiều so với sự lên gân của một ông già. Trần Đăng Khoa lúc trẻ và bây giờ là một ví dụ.

Hỏi: Ông có cho rằng có sự chuyển kiếp không?

Trả lời: Có chứ, thế mới có thiên tài. Thiên tài là sự gặp gỡ của Chúa với mình, mình nói đấy nhưng mà ý là của Chúa. Bây giờ không có Chúa thì làm sao có thiên tài. Trong khi viết, năm 1998 tôi có nói một câu thì năm 2008 tôi vẫn nói đúng câu ấy, mặc dù tôi không hề ý thức gì khi nói. Bởi vì câu ấy không phải là của tôi mà chúa ký gửi vào tôi câu ấy. Nhiều người cho rằng, khi mình lãng quên một điều gì đó đã viết ra, 10 năm sau mình viết lại thì sẽ hoàn chỉnh hơn.
Đó là một sự nhầm lẫn. Làm cho nó gần giống với hình hài mà người khác có thể hiểu được, làm cho người khác dễ hiểu hơn thì chưa chắc làm cho nó đẹp hơn. Có lẽ chuyện này là trừu tượng. Nhưng tôi biết rất rõ rằng, làm cho nó rõ hơn đối với người đọc thì không có nghĩa là làm cho nó đẹp hơn, xét về quan điểm mỹ học.

Hỏi: Đôi khi người ta vẫn tranh luận với nhau về chuyện bao giờ Việt Nam mình có giải Nobel?

Trả lời: Phải nói thật rằng, ở chúng ta đang hình thành một nền văn hoá đầy ảo tưởng: phải có trường Đại học đẳng cấp Havard, phải có giải Nobel… Điều này làm tôi buồn. Nobel không phải là giải thưởng cho một người tài đơn giản mà một người tài cưỡi trên một con ngựa văn hoá rực rỡ. Dân tộc chúng ta chưa có một con ngựa như vậy để cưỡi cho nên chúng ta không được vinh thăng bằng Nobel. Đừng vội vàng hy vọng những chuyện như vậy.

Chúng ta có một xã hội, có một nền chính trị, có một nền kinh tế chưa hoàn chỉnh thì chúng ta chưa nên hy vọng có được giải Nobel. Người ta sẵn sàng bỏ qua một viên kim cương trong vũng bùn bởi vì viên kim cương ấy không đủ giá để người ta cúi xuống bốc cái đống bùn ấy về đãi. Cho nên, nhiệm vụ của chúng ta là làm cho viên kim cương của mỗi một người có nằm trong một cái hộp nhung. Toàn bộ cố gắng vĩ mô của xã hội chúng ta là phải phấn đấu để Việt Nam trở thành một cái hộp bằng nhung chứ không bắt người đời cúi xuống đống bùn để nhặt viên kim cương ở trong ấy. Đấy là chúng ta nói chung như vậy, còn nếu xét về mặt văn chương thuần tuý, chúng ta cũng có những người viết hay, nhiều tác phẩm hay, nhưng tất cả đều bị vấy bẩn cả. Ai lục tung cái đám bụi ấy lên để mà tìm ra những thứ giá trị ở đấy bây giờ? Vì kẻ mua cái giá trị ấy không phải là chúng ta, chúng ta có hét to lên về sự đắt giá của mình thì cũng chẳng thay đổi được gì. Tất cả các giải thưởng được cấp bởi những người giàu có, những vùng phát triển, khi lục lọi trong một căn phòng bụi bặm phải bõ công, họ không mất công mất công như thế. Họ tìm thấy Nguyễn Du đã là một sự may mắn với chúng ta rồi.

Thực ra, chúng ta cũng có nhiều thứ có giá trị nhưng chúng ta không có một miền đất sáng giá để những thứ có giá trị được đặt đúng vị trí của mình. Tôi đi nhiều nước, tôi thấy các nhà văn nước ngoài cũng bụi bặm, đôi khi bê tha, rệu rã và nghèo đói như chúng ta. Nhưng cái khổ của cá nhân họ lại nằm trong một cộng đồng chói sáng, cho nên họ là những kẻ khuân vác những giá trị của xã hội ấy để trình bán cho thiên hạ, còn chúng ta thì khuân vác những giá trị ấy từ đâu? Các nhà văn là những người khuân vác những giá trị mà xã hội có để lắp nó lại thành một kết cấu có giá trị có thể bán được. Vậy các nhà văn của chúng ta khuân vác những thứ gì? Thực ra các nhà văn của chúng ta khuân vác những thứ có giá ở nơi khác đến Việt Nam cho nên, với tư cách là một độc giả đã đọc nhiều văn học nước ngoài, khi đọc các tác phẩm của Việt Nam tôi thấy nhiều người quen, phải gật đầu chào nhiều quá. Tôi nhớ có một nhà báo đã đến phỏng vấn tôi về bảo hộ quyền tác giả trong âm nhạc, tôi cười và nói rằng, các tác phẩm âm nhạc của chúng ta là những buổi dạ hội của những yếu tố quen biết, chúng ta bắt gặp ở trong đấy Chopin, Mozart, Beethoven... Những người có học thì đưa về được nhiều cái tử tế, còn những người ít học thì đưa về ít hơn. Xã hội chúng ta chưa đủ những yếu tố để lắp đặt tạo ra những thứ có giá. Những hiện thực thật sự lớn lao, thật sự khốc liệt thì luôn gắn bó với chính trị, gắn bó với các bí mật chính trị. Đấy vẫn là một cái lô cốt khép kín mà các nhà văn của chúng ta chỉ đứng ở bên ngoài để đoán mò mà thôi. Vì thế những cái đáng viết thì không được viết, cho nên các nhà văn nghệ của chúng ta chỉ canh tác trên những cánh đồng của những thứ không đáng viết.

Xã hội chúng ta chưa có các giá trị phổ quát. Một xã hội có những giá trị phổ quát là một xã hội có một nền văn hoá có giá trị phổ quát. Chúng ta chưa có một nền văn hoá có giá trị phổ quát. Tại sao lại như vậy? Điều này cần rất nhiều suy nghĩ và của rất nhiều người mới có thể giải đáp được. Riêng về văn học, chữ viết hiện đại mới có vài trăm năm, nên chúng ta chưa có những kinh nghiệm để tạo ra những tác phẩm có giá trị phổ quát. Nhiều người nói Vũ Trọng Phụng là thiên tài, lúc đầu tôi cũng nghĩ vậy nhưng sau thì chỉ thấy đó là những ghi chép bản năng, dung tục và đơn giản, vắng bóng những thông điệp có giá trị phổ quát và thiếu vắng vẻ đẹp phổ quát. Nếu đọc "Viên mỡ bò" của Guy de Maupassant, chúng ta sẽ thấy ông ta viết đẹp như thế nào và giá trị khái quát của nó lớn đến thế nào.

Hỏi: Đúng là đọc những nhà văn lớn của thế giới như Maupassant hay Dostoevsky, mình cảm thấy “sợ”. Cái cảm giác ấy không bao giờ có được khi đọc các tác giả Việt Nam.

Trả lời: Những nhà văn như thế thì không chỉ có mình “sợ”, mà kể cả những nhà văn lớn, những nền văn hoá lớn trên thế giới, họ cũng “sợ”. Bởi vì nếu đọc kỹ Dostoevsky thì chúng ta thấy ông ta còn giỏi phân tâm học hơn cả Freud. Những nhà văn lớn, trước khi ngồi vào viết, họ đã là bậc thầy của thiên hạ rồi. Họ là một kinh nghiệm sống khổng lồ trước khi viết cho nên tác phẩm của họ là một giáo trình sống khổng lồ. Tôi nói chuyện với nhiều nhà văn Việt Nam, kể cả những người có tên tuổi, tôi thấy khó khăn để nhìn thấy sự tự tin của họ, nhất là ở những nhà văn lớn và tử tế. Ở những đối tượng không lớn và tử tế thì tôi không nhìn thấy sự tự tin mà chỉ thấy sự tự mãn. Tự tin là kết quả của sự hiểu biết đúng đắn, Sự hiểu biết đúng đắn là kết quả của một nền giáo dục và đào tạo đúng đắn, Chúng ta chưa có nền giáo dục như vậy.

Cho nên hầu hết họ đều khai thác phần bản năng của mình, những kinh nghiệm sống thông thường của họ. Và khai thác bản năng và những kinh nghiệm sống thông thường thì rất khó có thể tạo ra những tác phẩm có chất lượng thiên tài được. Trần Đăng Khoa là một hiện tượng, anh ấy mở đầu cuộc đời nghệ thuật của mình bằng những cuộc gặp gỡ có chất lượng thần thánh, nhưngthần thánh rất sớm ra đi đối với Trần Đăng Khoa. Chúng ta phải thấy rằng, những thứ văn chương nhất thời ở Việt Nam chiếm một tỉ lệ khá lớn, trong đó bao gồm cả những tác phẩm phụ hoạ lẫn những tác phẩm chỉ trích chế độ.

Cả hai loại tác phẩm này đều ký sinh trên những khuyết tật của đời sống. Khi đời sống dịch chuyển đến độ hợp lý thì sự sống của những tác phẩm như vậy cũng chấm dứt.

Nguồn: chungta.com


Khả năng sáng tạo của người Việt (Nguyễn Hoàng Đức): "- Sent using Google Toolbar"

Bauxite Việt Nam: Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay

Nguyễn Trọng Vĩnh

image

iệt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.

Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.

Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?

N. T. V.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN


Bauxite Việt Nam: Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay: "- Sent using Google Toolbar"