Monday, May 31, 2010
tuan's blog: Thói ngụy biện ở người Việt
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.
Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.
Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.
Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là ... uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học". Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.
Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác
Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề
1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”
2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.
3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”
4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.
5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”
6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!
Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông
7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”
8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”
9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)
10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.
11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”
Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề
12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”
13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.
14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”
15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”
Nhóm 4. Qui nạp sai
17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”
18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”
19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”
20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”
22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”
23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”
24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”
25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo
26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”
27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)
28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.
29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.
31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”
Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận
32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”
33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.
34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”
35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.
36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.
Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác
37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”
39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.
41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”
42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.
43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”
Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”
44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”
45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.
Nhận xét
Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.
Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.
Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.
Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.
Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.
Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.
BTĐ
tuan's blog: Thói ngụy biện ở người Việt
Thursday, May 27, 2010
Kẻ sĩ « Quê choa
Hoàng Phủ Ngọc Tường
Ý niệm “kẻ sĩ” có từ bao giờ ? Theo lời cụ Nguyễn Công Trứ có giang sơn thì “sĩ” đã có tên – “ Từ Chu, Hán vốn “sĩ” này là quý”. Thế mới biết từ thời Chu, thời Hán đến nay quả là có rất nhiều người làm nghề “sĩ” (người đọc sách), nhấn mạnh vào chữ nghề, như có lúc người ta nói “nhất sĩ nhì nông”. Nhưng thử xem còn lại mấy người được lưu danh là kẻ sĩ, vì vậy từ kẻ sĩ thường bao hàm cả sự độc xuất, nhân cách và đạo lý.
Ở nước ta dưới đời Trần có một người xứng danh là kẻ sĩ. Quán xuyến hết cả giới trí thức; người đó là ông Chu Văn An. Ông đậu tiến sĩ đời nhà Trần, làm quan to, có danh vọng nhưng đã từng dâng sớ lên vua đòi chém đầu bảy kẻ nịnh thần. Dư luận chấn động, nói rằng: “Thất trảm sớ, nghĩa động càn khôn”. Nhưng ông không được vua nghe theo, bèn cởi áo từ quan về nhà dạy học (Trường học dựng tại núi Phượng Hoàng, gần núi Côn Sơn của Nguyễn Trãi). Ông không để lại cho hậu thế một tước vị hào nhoáng nào , mà chỉ để lại một chữ đượm màu sắc kẻ sĩ là chữ “thầy”: Thầy Chu Văn An. Phải nói từ cổ chí kim chưa có một ai lưu danh hậu thế bằng một chữ thầy như ông Chu Văn An cả. Nghĩ kỹ ra, ấy là bởi suốt đời ông chỉ một lòng lo rèn luyện nhân cách, tu dưỡng đạo lý và thể hiện sự dũng cảm của người kẻ sĩ.
Kẻ sĩ không cần phải có học vị lớn, có danh vọng cái thế hoặc sản nghiệp hơn đời; mà cốt ở lòng khí khái, quyết tâm bảo vệ trước chân lý sự thật, như chuyện ông Chu Văn An và Thất trảm sớ nói trên đây. Hay như bà Nguyễn Thị Bích Châu – cung nữ đời Trần Duệ Tông, đã dâng lên vua quyển “Kê minh thập sách” ghi lại mười điều răn viết lúc gà gáy nhắm khuyên vua đem lại thái bình cho dân tộc , khiến người đời sau phải xây miếu thờ bà ở của biển Kỳ Lan (Hà Tĩnh). Sử cũ có ghi chuyện một người hàn sĩ Thăng Long quyết tâm can vua đừng dời đô đi nơi khác mà phải ở lại Kinh Thành để cưu mang lấy vận mệnh của trăm họ; nhưng không thể nào lay chuyển được mệnh lệnh sắt đá của quan tể tướng Hồ Quý Ly. Đến ngày đoàn thuyền Hoàng gia xuất phát vào Thanh Hoá, Hồ Quý Ly vẫn đăm đăm với ý chí sắt thép rút gươm đứng sẵn trước mũi thuyền, thề rằng sẽ chém chết bất cứ ai ngăn cản việc dời đô. Thế nhưng có người hàn sĩ ở Thăng Long vẫn lội tới trước mũi thuyền Hồ Quý Ly, khóc lớn mà can rằng: “Nếu nhà vua dời đô vào Thanh Hoá thì cả xã tắc dân chúng bỏ lại cho ai ?” . Vào thời diểm quyết liệt ấy, đó là ngọn đòn chí tử đánh thẳng vào ý chí dời đô của Hồ Quý Ly , buộc ông phải nhượng bộ. Chính người hàn sĩ đã bì bõm lội trên sông Hồng để nói với vua và tể tướng Hồ Quý Ly một lời gan ruột (theo nhà sử học Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược).
Ở triều nhà Lê sau này có tên tuổi của một vị trạng nguyên là Giang Văn Minh. Vua Tàu muốn nói xỏ Việt Nam trước mặt sứ đoàn, bèn đọc một vế câu đối có ý nói kháy chuyện đồng trụ của Mã Viên: “Đồng trụ chí kim, đài dĩ lục “ (cột đồng đến nay rêu đã xanh biếc mấy). Chẳng thể ngồi im nghe vua Tàu nói xéo nền văn hiến của Tổ Quốc mình, ông Giang Văn Minh bèn ung dung đọc trả lại vế đối tiếp theo :
“Đằng giang tụ cổ, huyết do hồng” (Xin tạm dịch nghĩa : Sông Đằng từ xưa, máu vẫn còn tươi)
Người ta truyền rằng, vua Tàu nghe vừa khoái cảm vừa khinh khoái vì vế đối hay, đồng thời vì khí phách không sợ chết của Giang văn Minh, bèn phong ông làm Lưỡng quốc trạng nguyên. Từ nghìn năm nay, nghề đối ngoại của một quốc gia đã đẩy kẻ sĩ đến trước một thách thức ghê gớm. Kẻ sĩ đã thoát khỏi thách thức nhờ có tài đức và lòng dũng cảm. Đó chính là điều mà kinh sách đã dạy cho kẻ sĩ biết thể hiện nghề nghiệp của mình : Đi sứ ra nước ngoài mà không làm nhục mệnh vua. Đến đời Lê Chiêu Thống, một số các bề tôi chạy theo vua sang Tàu. Vua Tàu có ý định đày cả vua, tôi An Nam lên thành Hắc Long Giang, bèn sai mọi người dọc tóc và thay đổi quần áo theo cách ăn vận của người nhà Thanh. Vị đại thần Lê Quýnh vốn là tôi tòng vong theo vua Lê bèn thét lớn, rằng : Đầu ta không chém được thì tóc ta không dọc được, da ta có thể lột, nhưng quần áo ta không thể thay đổi. Như thế đây! Đến bước đường cùng kẻ sĩ vẫn biết lấy cái chết để bảo vệ phẩm tiết của mình, và trường hợp Lê Quýnh là bảo vệ văn hoá dân tộc.
Đất Thăng Long vốn đời đời tàng trữ một lực lượng đọc sách, nên trong dòng máu họ luôn luôn đầy ắp chất sĩ khí và họ biết tuỳ thế hành động để bảo vệ phẩm chất kẻ sĩ bằng phản ứng khôn ngoan, khi kẻ thù bức hiếp họ. Tuy nhiên nhiều lúc thế địch mạnh và sẵn sàng ra tay đàn áp, hoặc vào thời điểm thay đổi văn tự, những kẻ đọc sách có văn học chữ nghĩa đều phải tạm quên Thánh Hiền, khiến cho trong phong tục, lối sống hầu như không có ai muốn nhắc tới vấn đề nhân cách, danh dự, khí tiết. Người ta đành chặc lưỡi, lắc đầu ngao ngán: Sĩ khí rụt rè, gà phải cáo. Thế là văn đàn tạm thời lắng xuống , và trên khắp mặt trận miệng lưỡi. sức sống của xã hội xuất hiện loại thơ trào phúng, hoặc trong ngôn ngữ bắt đầu có loại truyện ngụ ngôn, cũng là vũ khí của kẻ sĩ lúc thời vận chưa thuận lợi.
Huế, ngày 6-12- 2009
HPNT
(Nguồn: BLog Ngô Minh)
Kẻ sĩ « Quê choa
Thơ yêu nước lề phải « Quê choa
NẾU TỔ QUỐC TÔI KHÔNG CÒN BIỂN
Mất Hòang Sa, Trường Sa
Rồng Việt Nam không còn chỗ núp
Không có lối ra
Tổ Quốc như bị giam trong ngục
Xin Ngô Quyền trở về
Xin Trần Hưng Đạo trở về
Dìm quân xâm lược
Tổ Quốc nguy nan
Mỗi người Việt Nam
Hóa thành cọc nhọn
Bán đảo Đông Dương biển mất gần hết
Hồng Hà biết chảy về đâu ?
Cửu Long rồi giãy chết ?
Linh hồn cha Lạc Long Quân
Không còn chốn đi về
Cái lưỡi bò ngọai tộc
Rót vào tai nhà đương cục
Mười sáu chữ vàng
Miệng vờ ôm hôn
Tay lừa bóp cổ
Lưỡi bò đang liếm sạch biển Đông
Trọng Thủy xưa Từng dùng lưỡi bò tỏ tình
Lừa tình cướp nỏ
Lừa tình cướp nước
Trong miệng người anh em
Giấu một lưỡi bò
Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn bô-xít
Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm đang hóa Bạch Đằng Giang
Sài Gòn 11-9-2009
T.M.H.
Thơ yêu nước lề phải « Quê choa
Monday, May 17, 2010
Cách mạng học tập
Một cuốn sách phù hợp cho mọi độc giả: giáo sư đại học, giáo viên mẫu giáo, một người làm việc ở bất kì nghề nghiệp nào tới một học sinh phổ thông, cô gái hay chàng trai trẻ, người nội trợ, hay thậm chí một bà mẹ đang nuôi con nhỏ...
Cuốn sách đề cập tới nhiều vấn đề rất rộng, được thể hiện bằng văn phong báo chí, trình bày dễ hiểu, đồng thời nhiều ví dụ và số liệu cụ thể được cung cấp để người đọc có thể vận dụng cho mục đích cá nhân.
Những vấn đề được đề cập trong cuốn sách lại có phạm vi ý nghĩa rất lớn, và điều thú vị nằm ở chỗ là những vấn đề thực ra rất rộng và nhiều vấn đề có thể trái ngược với niềm tin xưa nay của không ít người.
Hai tác giả, Gordon Dryden và Jeannette Vos, đã sử dụng văn phong báo chí, vì vậy nhiều vấn đề sâu sắc đã được trình bày thật dễ hiểu, và đồng thời nhiều ví dụ và số liệu cụ thể đã được cung cấp để người đọc có thể thậm chí vận dụng ngay cho mục đích cá nhân.
Độc giả của cuốn sách này có thể là bất cứ ai - một giáo sư đại học hoặc một giáo viên mẫu giáo, một người làm việc trong bất cứ lĩnh vực gì cho tới một học sinh phổ thông. Một cô gái, chàng trai trẻ tuổi hoặc một phụ nữ nội trợ, một bà mẹ đang nuôi con nhỏ. Cuối cùng, bản thân cuốn sách còn có thể được dùng để soạn những bản trình chiếu rất tiện lợi (powerpoint presentation): cuốn sách được trình bày theo cách mỗi trang chữ đều có một trang hình ảnh bên cạnh để minh hoạ.
Gordon Dryden, một người New Zealaland rời ghế nhà trường khi ông mới 14 tuổi, một điều bị coi là trái luật tại New Zealand, thế nhưng sau đó ông đã tự học và trở thành người rất nổi tiếng tại New Zealand: nhà báo, người dẫn chương trình truyền hình, viết sách và chuyên gia về truyền thông đa phương tiện. Năm 1990, ông đã thuyết phục một quỹ từ thiện tại New Zealand tài trợ 2 triệu đô la để thành lập Quỹ Thái Bình Dương (Pacific Foundation) nhằm phát động một cuộc tranh luận về giáo dục trong thế kỷ XXI. Ông đã cùng một nhóm quay phim truyền hình đi tới nhiều nơi trên thế giới và ghi lại 150 tiếng băng hình tư liệu để biên tập thành sáu cuốn phim tài liệu mỗi cuốn dài một tiếng.
Jeannette Vos, một phụ nữ Hà Lan di cư tới Mỹ trong Thế chiến II. Bà làm giáo viên, song đã sớm thất vọng với hệ thống giáo dục của nước Mỹ, đến nỗi bà đã suýt từ bỏ nghề dạy học. Bà quyết định tạm dừng công việc dạy học để tập trung vào công trình luận văn tiến sĩ giáo dục học kéo dài bảy năm.
Gordon Dryden và Jeannette Vos gặp nhau tại một hội nghị quốc tế về học tập được tổ chức tại Mỹ vào năm 1990. Trong lần gặp lại nhau tại một hội nghị quốc tế khác, họ đã trao đổi với nhau các công trình nghiên cứu: sáu cuốn phim tài liệu của Gordon Dryden và luận văn tiến sĩ giáo dục học của Jeannette Vos.
Sau đó hai người đã quyết định viết chung cuốn Cách mạng học tập. Cuốn sách được xuất bản lần thứ nhất vào năm 1993, được dịch sang 20 thứ tiếng và được xuất bản tại 26 nước với số lượng tiêu thụ kỷ lục tại Trung Quốc: 10 triệu cuốn chỉ trong bảy tháng ra mắt. Kể từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1993 cho tới lần tái bản sau cùng vào năm 2009 mà bản dịch tiếng Việt bạn đang cầm trên tay, Cách mạng học tập đã được tái bản năm lần có cập nhật.
Gordon Dryden và Jeannette Vos thông qua Cách mạng học tập đã lên tiếng cảnh báo sự lạc hậu thấy rõ của nhiều trường học trên thế giới so với sự phát triển kỳ diệu của những lĩnh vực khác của đời sống. Hai tác giả kêu gọi nhà trường hãy làm một cuộc cách mạng học tập để nhà trường và giáo dục xứng tầm với sự phát triển của nền văn minh nhân loại.
[...]
Hai tác giả của Cách mạng học tập kêu gọi một sự thay đổi trường học và giáo dục và thay đổi ngay lập tức. Động lực để tạo sự thay đổi là các cuộc cách mạng đang diễn ra theo hướng hội tụ với nhau, trong đó có cuộc cách mạng Web 2.0. Khác với quan niệm của Thung lũng Silicon, hai tác giả cho rằng Web 2.0 không đơn thuần như thể là một phiên bản nâng cấp của một phần mềm nào đó. Web 2.0 thực sự là một triết lý mới: giờ đây, một sự thay đổi được khởi phát từ những cá nhân ở cấp cơ sở (grassroots) có thể làm thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục (Chương 10) - thay đổi không diễn ra từ trên xuống mà là từ dưới lên: sự cá nhân hoá đại chúng (mass personalization) (Chương 11).
Nhờ Web 2.0, khi một thay đổi đi đến điểm tới hạn (tipping point), thì sự thay đổi đó dù rất nhỏ cũng có thể làm thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục. Tác giả Gordon Dryden có niềm tin vững chắc như vậy cũng là điều dễ hiểu: đất nước New Zealand của ông cách đây hai mươi năm đã giải tán Bộ Giáo dục Quốc gia, giải tán các Khu học chính (tương đương với các sở giáo dục của Việt Nam), chuyển đổi toàn bộ các trường học, dù công lập hay trường tư, thành trường bán công và ban giám hiệu của mỗi trường sẽ do phụ huynh, giáo viên và học sinh bầu ra: các ban giám hiệu sẽ là những tác nhân thay đổi (Chương 12).
Năm 2006, Gordon Dryden đã được Đại học Phát triển Công nghệ Arizona trao tặng bằng tiến sĩ danh dự vì những đóng góp cho công nghệ giáo dục (educational technology).
[...] Xin mời bạn đọc "thưởng thức trước" phát biểu của Bill Gates tại hội nghị các trường trung học của nước Mỹ năm 2005:
"Các trường trung học của nước Mỹ đã quá lạc hậu. Khi tôi nói lạc lậu tôi không nhất thiết định nói rằng nhà trường trung học của chúng ta đã đổ vỡ, rạn nứt và không được cấp đủ kinh phí - mặc dù mỗi điểm nói trên đều có thể là đúng như vậy. Khi tôi nói lạc hậu tức là tôi muốn nói rằng các trường trung học của chúng ta - ngay cả khi chúng đem lại hiệu quả đúng như mục đích đề ra - thì các trường học đó cũng không thể dạy cho con em chúng ta những gì mà chúng cần phải biết ngày hôm nay.
Các trường trung học của chúng ta được thiết kế cách đây 50 năm và chúng đã đáp ứng những nhu cầu của thời đại ấy. Nếu như chúng ta không thiết kế những trường học đó để đáp ứng những nhu cầu của thế kỷ XXI, chúng ta vẫn tiếp tục ngăn cản, thậm chí đánh hỏng cuộc đời của hàng triệu người Mỹ mỗi năm. Đó không phải một sự cố hoặc một thiếu sót trong hệ thống: chính bản thân hệ thống cần phải được thay đổi" (Chương 9).
Hi vọng quan niệm về thế nào là "thay đổi" của người sáng lập tập đoàn Microsoft và thông điệp của Cách mạng học tập sẽ đến được những ai có trách nhiệm với công cuộc cải cách nền giáo dục của nước nhà.
(Trích Lời người dịch Phạm Anh Tuấn)
Cách mạng học tập
Sunday, May 16, 2010
Chân lý của Bờm và điều khiến tôi giật mình...
Một câu ca dao cổ với những hồn cốt của thằng Bờm sao lại có thể vận vào cuộc sống đương đại của chúng tôi đơn giản, dễ dàng như vậy sao? Quả thật tôi rất không muốn tin rằng có một sự thật cay đắng như thế!
Các giả thiết tư duy thằng Bờm
Tôi có một người bạn ngoại quốc tên quen gọi là Bill, chuyên nghiên cứu về văn hoa dân gian Việt Nam. Ông muốn tìm hiểu sâu về thằng Bờm, một hình tượng làm ông khá ngạc nhiên và thích thú. Ông thuôc lòng và thường nghêu ngao hát bằng cái giọng ngoại quốc lơ lớ vui nhộn bài thằng Bờm nổi tiếng mà người Việt mình có lẽ ai cũng biết:
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi
Bờm cười!
Thằng Bờm được lưu truyền từ rất lâu, được coi là một trong số những nhân vật tiêu biểu nhất của ca dao Việt, của dòng văn học dân gian Việt thuộc một nền văn hóa cả nghìn năm rực rỡ mà dân Việt nam ta thường lấy đó làm nỗi tự hào. Ông ngoại quốc này quan tâm cũng là phải!
Rồi một hôm ông bạn ngoại quốc này hỏi tôi một cách khá nghiêm túc : "Này ông Hòang, từ thực tiễn đòi sống Việt ông có thể lý giải như thế nào về phương pháp tư duy thằng Bờm?"
| Thằng Bờm có cái quạt mo... Ảnh Saga |
Với người nước ngoài, lại là một học giả, mình đâu có thể trả lời qua loa cho được. Tôi còn mỗi một cách là đưa ông bạn này đến gặp giáo sư Trí Việt mong được nghe những kiến giải xác đáng từ nhà học giả thông thái khả kính của chúng ta.
Tại nhà giáo sư Trí Việt, sau khi nghe chúng tôi trình bày,vị giáo sư khả kính gọi người phụ tá của mình ra dặn dò tìm cho chúng tôi một bản thảo lưu trước đấy của giáo sư rồi ân cần nói : "Rất cám ơn ông Bill đã nêu ra một điều rất thú vị, đáng phải suy nghĩ về thằng Bờm. Người Việt chúng tôi thường tiếp nhận các hiên tượng sự việc dễ dãi theo cảm tính, ít khi lật ngược lại vấn đề. Đáng buồn là phải để một người nước ngoài như ông đặt vấn đề giúp.
Văn hóa dân gian theo tôi là những gì được chắt lọc từ đời này qua đời khác, luôn phản ánh cái hồn, cái tâm thức của một đất nước, của một dân tộc. Vậy có mối tương quan nào đó giữa nhân vật Bờm với nếp nghĩ nếp cảm của người Việt hay không?
Về trường hợp cụ thể này, cách đây trên 20 năm tôi có một phác thảo nhỏ mới nêu được 4 giả thiết về cách tư duy thằng Bờm.
Vừa lúc đó người phụ tá của giáo sư Trí Việt mang ra cho chúng tôi một bản đánh máy chữ theo kiểu mổ cò trên lọai giấy pơluya rất mỏng đã ố vàng mà giáo sư tự đánh máy những năm đầu thập niên 90 khi bắt đầu một thời kỳ "Đổi mới".
Đưa bản phác thảo cho chúng tôi, vị giáo sư còn cẩn thận căn dặn thêm: "Tôi cũng phải nói lại một lần nữa rằng đây chỉ là các giả thiết chưa được minh chứng, cũng mới chỉ là các suy tư ở dạng phác thảo, không phải là kết luận khoa học. Không biết có giúp được gì cho khảo cứu của ông?"
Tôi nhanh nhẩu xin phép giáo sư Trí Việt đươc copy lại một bản cho mình và cho cả các bạn nữa. Sau đây là phần trích từ bài viết của giáo sư Trí Việt :"Các giả thiết về phương pháp tư duy thằng Bờm" để bạn đọc gần xa có thể chia sẻ và cùng chiêm nghiệm:
"...
Giả thiết 1: Bờm bản năng gốc:
Trong trường hợp này, Bờm tư duy bản năng như con nít, không hơn gì các loài là bao, không trưởng thành trong suy nghĩ , chưa phát triển được các kỹ năng so sánh. Vì vậy Bờm hành sử theo nhu cầu bản năng gốc của tự nhiên: Không phải nghĩ, phàm là cái gì thỏa mãn được cái bụng cậu, cái tính ham ăn của cậu là quan trọng nhất! Ngoài cái ăn được ngay ra, mọi thứ khác đối với Bờm đều vô nghĩa, đều không quan trọng chút nào.
Ở đây dân gian vốn đã có câu "Dĩ thực vi tiên" !
Giả thiết 2 : Bờm "tồn tại hay không tồn tại "
Bờm ở trong môt hoàn cảnh cùng quẫn, bị đói khát bệnh tật, triền miên giữa cái sống và cái chết Không biết có tồn tại được đến ngày mai hay không. Trong hòan cảnh sống bữa nay, chưa lo được bữa mai ấy, Bờm không thể nghĩ dến một cái gì cao xa, dài hơi hơn quá ngày hôm nay. Trong cuộc vật lộn vì sự tồn tại trước mắt, người ta đâu có thể tính chuyện mai này.
Vì sự tồn tại trước mắt. Bờm đành chấp nhận nắm xôi và bỏ qua những trâu bò, bè gỗ lim, ao sâu cá mè bởi "Nước xa không cứu được lửa gần" vậy!
Giả thiết 3 : Bờm phận nghèo tự ti
Bờm rất nghèo, cả gia tài chỉ có cai quạt mo là đáng giá và cái quạt mo ấy chẳng thể che đậy được cai nghèo của Bờm trươc đôi mắt tinh tường của lão Phú ông biết làm ăn giàu có. Trong cái tương quan thất thế ấy, Bờm đâu dám tơ tưởng đến một cái gì cao xa vượt quá giá trị cái quạt mo của mình. (Với bản tính tự ti và thiếu óc tưởng tượng, Bờm đâu có biết rằng trước khi trở nên giàu có, nhiều lão phú ông kia cũng bắt đầu từ một thời nghèo khó, cũng chỉ có một chiếc quạt mo như Bờm vậy!).
Thôi thì hãy bằng lòng vậy, đành lòng vậy, vì đã nghèo thì cũng phải hèn thôi! Mà cái quạt mo đổi được cả nắm xôi để giải quyết sự đói nghèo trước mắt Bờm thấy cũng đã là tốt lắm rồi!
Có câu:"Cái khó nó bó cái khôn " làm điều an ủi cho phận nghèo của Bờm!
Gỉả thiết 4: Bờm sống gấp, vô trách nhiệm với hiện tại và tương lai.
Các quyết định của Bờm không cần tính đến hiệu quả, tính đến ngày mai cho bản thân và tương lai của con cháu. Có của nả gì trong nhà, ngoài vườn, Bờm đều chăm chăm đem đổi lấy miếng ăn nóng trước mắt cho riêng mình tiêu sài mặc sức. Bờm không suy nghĩ phải làm việc có hiệu quả và làm ra của cải thật sự cho xã hội, "trời sinh voi, trời sinh cỏ" cơ mà!
Vả lại nhà Bờm "rừng vàng biển bạc", cơ nghiệp đất đai tổ tiên ông bà để lại mênh mang, thiếu gì!
Trong đầu Bờm không có tư duy phát triển vì tương lai. Cứ như vậy Bờm bỏ qua các cơ hội mà thời cuộc đem lại, dửng dưng với các phương tiện sản xuất như trâu bò, ao sâu cá mè hoặc cả bè gỗ lim của Phú ông. Bờm ích kỷ, chỉ bận bịu với chính sự tồn tại của mình!
Với thế hệ mai sau, Bờm nói : Các con ạ, các cụ ta có câu "Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào", nay ta tặng lại câu này cho các con đó. Hãy coi đây là tài sản thừa kế vô giá duy nhất mà Bờm ta để lại cho hậu thế các con !...
Và còn có thể có nhiều giả thiết khác nữa cần được tiếp tục bổ xung vào đây.
Hà nội , ngày 15 tháng 2 năm 1992 , GS Trí Việt.
| Phú ông xin đổi ba bò chín trâu... Ảnh vanhocdangian |
Đọc kỹ vài lần, tôi càng thấy ngờ ngợ như đã gặp rất nhiều những anh chàng Bờm này hàng ngày trong cuộc sống ở đâu đó quanh tôi. Rồi tôi lại như thấy những anh chàng Bờm này đang ở ngay trong chính con người tôi, chính là một phần cuộc đời tôi.
Một câu ca dao cổ với những hồn cốt của thằng Bờm sao lại có thể vận vào cuộc sống đương đại của chúng tôi đơn giản, dễ dàng như vậy sao? Quả thật tôi rất không muốn tin rằng có một sự thật cay đắng như thế!
Mà chẳng nhẽ tôi và Bờm có những điểm giống nhau, như là anh em ruột thịt của nhau? Chẳng nhẽ tôi cũng kém cỏi, tồi tệ đến thế sao! Và rồi tôi cũng thấy buồn và rợn cả cho chính bản thân mình luôn:
- Bởi tôi cũng ham mê các lọai làm ăn đánh quả kiểu chụp giật mì ăn liền, chỉ cần được lợi trước mắt cái đã, bất chấp hậu quả lâu dài dù có tồi tệ đến đâu cũng chẳng sao, rồi ta sẽ tính sau;
- Bởi tôi cũng có tinh thần cam chịu thẳng tưng, chấp nhận cái phận mình nghèo thì hèn là nhiên dĩ nhiên, đành lòng vậy, cầm lòng vậy có sao! Được tồn tại như thế này là quá tốt rồi, làm nữa làm gì cho nó khổ vào thân, chết có mang đi được gì đâu!
- Bởi cũng như Bờm từ khi còn trẻ, tôi đã học được phương pháp luận ngụy biện chứng hùng hồn: cái nghèo tinh thần và vật chất của ta có nguyên nhân sâu xa trong sự giàu có của những lão phú ông kia. Và để rồi từ đó không bao giờ ta phải tự vấn bản thân, lương tâm về cái nghèo, cái dốt của mình nữa, cứ vô tư mà sống trôi tuồn tuột theo bản ngã vô thức của mình đi!
-Bởi tôi rất ngại suy nghĩ, can dự vào các vấn đề thời cuộc và tương lai. Tôi tâm đắc với cách người làng Vũ Đại xử lý vụ Chí Phèo chửi ầm ĩ cả làng, mọi người không ai bảo ai đều biết im lặng tự nhủ "Chắc nó trừ mình ra".
Tôi luôn biết cách tự an ủi mình trước các vấn nạn của xã hội mà thường tôi cũng góp phần tạo dựng theo tinh thần văn hóa đổ lỗi của đám đông thời nay; "Do hoàn cảnh khách quan xúi bẩy, tôi đâu muốn thế!". Ngoài ra, tôi luôn đề cao tinh thần tự ti vô can vô trách nhiệm: "Em kém cỏi, em bất lực, em xin nhường hết cho các bác đứng ra đứng ra giải quyết" ngay cả khi tôi biết chắc rằng sẽ chẳng có bác nào đứng ra cả!
Hoặc nhờ có năng lực kiên trì trông đợi, tôi sẽ nhắm mắt lại để cố tin vào một phép màu nhiệm là một ngày đẹp trời nào đó,khi mở mắt ra các vấn đề tự nó rồi sẽ được giải quyết tốt đẹp;
- Bởi tôi bao lâu nay vốn chỉ quen ăn xổi ở thì, vô lo vô nghĩ và cũng vô trách nhiệm luôn trên cuộc đời này;
- Bởi tôi vv... và vv...
Và rồi tôi ngạc nhiên không biết từ khi nào mình trở nên vô cảm, hành xử ngây ngô và đầy chất bản năng đôi lúc mất cả tình người giữa cuộc đời này? Vậy đâu là phần con, còn lại bao nhiêu là phần người trong con người của tôi hôm nay?
Để giải thóat cho mình khỏi những nỗi ám ảnh đáng sợ đó, có lẽ tôi phải chờ xem các kết quả khảo cứu và ý kiến của anh bạn Bill sẽ như thế nào. Hy vọng người nước ngòai nhìn vấn đề của người Việt mình khách quan, tích cực và bao dung hơn chăng.
Và biết đâu ông bạn Bill lại có thể chỉ cho các loại chàng Bờm và tôi một giải pháp tích cực hơn các giả thiết mà giáo sư Trí Việt khả kính đã nêu ra trong phác thảo đầy thất vọng của ông!
Và biết đâu vào cái thời hiện đại của số hóa và toàn cầu hóa, các giả thiết trên cùng các chiêm nghiệm đáng sợ của tôi có thể được một nhân vật kiệt xuất nào đó trên Internet chứng minh là đã không còn tồn tại trong thực tiễn khách quan tươi đẹp của chúng ta nữa thì lại càng may mắn chứ sao!
Chả thế mà hôm nay lần đầu tiên tôi và các loại chàng Bờm mạnh dạn rủ nhau cùng xuất hiện giao lưu trên internet để giãi bày tâm sự của mình như các bạn đã thấy ở đây!
Chân lý của Bờm và điều khiến tôi giật mình...