Wednesday, April 28, 2010

GS. Cao Huy Thuần: "Dân tộc không có sông Ngân"

Đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác?...Hòa hợp dân tộc không phải là hòa giải giữa trong với ngoài. Đó là hòa hợp giữa dân với Đảng, giữa Đảng với dân. - GS. Cao Huy Thuần.

>> Ba mươi lăm năm Hòa hợp để Yêu thương

Thành phần thứ ba xứng đáng được lịch sử thắp cho nó một cây nhang

- Tuần Việt Nam: Thưa ông, mai là ngày 30 tháng 4, kỷ niệm ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, Tuần Việt Nam muốn chuyện trò với ông về chủ đề "hòa hợp dân tộc". Trước 1975, ông được biết như là một người có tiếng nói đáng để ý trong khuynh hướng hòa giải hòa hợp dân tộc; ông có thể nói vài lời về khuynh hướng đó, về lịch sử sinh thành ra nó?

GS. Cao Huy Thuần: Trước 1975 hay sau 1975, lúc nào tôi cũng chỉ là một người theo đạo Phật, không đại diện cho ai và cũng không phải là thành phần của một khuynh hướng chính trị nào. Tôi chỉ nói lên những gì mà tôi nghĩ là đúng với đạo Phật, và nếu có ai muốn tìm hiểu về Phật giáo thì tôi có thể góp ý, thế thôi.

- Nhưng, cụ thể hơn nữa, ông được biết đến, trước 1975, như là một tiếng nói đáng để ý trong "thành phần thứ ba", thành phần chủ trương hòa hợp hòa giải.

Tôi chưa bao giờ tự nhận mình như thế, và nếu có ai nói về tôi như thế thì họ cứ nói và tôi cứ cười. Xin trả lời như vậy là đủ về cá nhân tôi.

GS. Cao Huy Thuần. Ảnh: Lan Đào

Còn về "thành phần thứ ba" và "hòa giải hòa hợp dân tộc", tôi có thể trả lời như một người nghiên cứu. Đứng về mặt nghiên cứu, đây là đề tài rất lý thú cho bất cứ ai nghiên cứu về chiến tranh, chiến tranh Việt Nam cũng như mọi chiến tranh khác, bởi vì ở đâu có chiến tranh, hơn thế nữa, ở đâu có chính trị, ở đấy có thành phần thứ ba, dưới dạng này hoặc dạng khác.

Riêng về chiến tranh Việt Nam, các giới nghiên cứu quốc tế đang có khuynh hướng chú trọng đến những diễn tiến đưa đến thương thuyết để chấm dứt chiến tranh. Trong chiều hướng đó, một hội thảo quốc tế về hiệp định Paris 1973 đã được tổ chức tại Đại Học Paris I, vào tháng 5/2008, với sự tham gia tích cực của nhiều chuyên viên Việt Nam đến từ Hà Nội. Thành phần thứ ba là điểm độc đáo nhất, mới lạ nhất, đáng nói nhất, của hiệp định 1973. Nó đã chết non cùng với hiệp định này, nhưng không phải vì vậy mà nó mất cái bài vị của nó trên bàn thờ lịch sử.

- Đây là đề tài chưa được giới nghiên cứu trong nước thảo luận...

Thành phần thứ ba xứng đáng được lịch sử thắp cho nó một cây nhang, như ông Võ Văn Kiệt đã thắp trong một bài viết ở cuối đời. Ông cựu thủ tướng ấy là người đã có lòng thắp nhang cho một nấm mồ vô chủ. Không ai viết tên trên đài chiến sĩ vô danh, cho nên chủ nhân của nấm mồ vô chủ ấy có thể tự nhận mình như chiến sĩ vô danh của hòa giải hòa hợp dân tộc.

- Người chiến sĩ ấy vô danh nhưng có cha đẻ là hữu danh? Bởi vì cha đẻ là hiệp định 1973!

Hiệp định 1973 không phải là cha đẻ mà chỉ là người làm giấy khai sinh. Ai cũng biết, chiến tranh Việt Nam kéo dài cho đến Tết Mậu Thân 1968 thì nhà cầm quyền Mỹ vấp hai phản ứng quyết liệt: phản ứng chính trị đến từ nội bộ; phản ứng quân sự đến từ chiến trường. Đánh mà biết không thắng, tình hình đó tất phải đưa đến thương thuyết. Cái bánh không ăn hết được, tất phải bẻ hai.

Buổi sáng ngày 13/5/1968, cũng như bao nhiêu bạn bè người Pháp và người Việt, tôi đứng chờ hàng giờ trên đường phố dẫn đến hội trường Kléber, nơi bốn phái đoàn họp lần đầu để thương thuyết, và đã cảm động đến ứa nước mắt khi bốn chiếc xe với bốn lá cờ được hộ tống oai nghiêm đến phòng hội nghị. Bốn lá cờ: Mỹ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính Phủ Cách Mạng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa. Tôi ứa nước mắt vì nghĩ mình sắp được trở về quê hương thanh bình. Lầm to! Thương thuyết kéo dài 5 năm! Năm năm đằng đẵng! Nín thở cho đến 1973 hai lá phổi mới nhận lại không khí. Hiệp định Paris ngưng chiến tranh Việt Nam được bốn bên ký vào ngày 27/1 năm ấy. Chiều ngày 27, tôi lại ứa nước mắt lần nữa khi ngồi một mình trong công viên Montsouris nhìn mấy con vịt bơi trong hồ. Tôi thầm nói với vịt: từ giã mày nhé! Lại lầm to! Hiệp định bị chiến sự xé toạc! Vừa khai sinh đã chết yểu!

- Ai xé?

Chiến sự. Giá như những người cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa hồi đó khôn ngoan, không chừng họ còn đất sống. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa, từ ông Diệm đến ông Thiệu, chưa bao giờ được cai trị bởi những người khôn ngoan, chừng mực. Ông Diệm tham ăn tôn giáo. Ông Thiệu tham ăn hết cả cái bánh tuy hàm răng của Mỹ không còn. Nạn nhân của ông là tất cả những ai bị ông đẩy vào chiến tranh khi chiến tranh trong tay ông đã hết phù phép. Ông nhìn không xa hơn cái mũi. Và mũi ông là cái cò súng, tuy hết đạn viện trợ. Hiệp định Paris 1973 là cơ hội ngàn năm một thuở để ông Thiệu cứu ông và cứu dân tộc. Để ông cùng với dân tộc đi vào hòa bình khi chính ông đã bị Mỹ bỏ rơi. Nhưng ông ấy nghĩ: đi vào hòa bình là đi vào tử lộ. Ông sợ nhiều thứ mà sợ nhất là "thành phần thứ ba"!

Hiệp định 1973 nói rõ: chấm dứt chiến sự; người Mỹ rút lui; thành lập một hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc để người Việt giải quyết vấn đề của người Việt; hội đồng sẽ tổ chức bầu cử tự do ở miền Nam và gồm ba thành phần bình đẳng với nhau: chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ cách mạng miền Nam, thành thần thứ ba. Thành phần thứ ba là ai? Chưa biết. Nhưng chưa biết mà ông Thiệu đã sợ. Ông sợ, vì ông chỉ có súng mà không có dân. Súng của ông bắn vào địch cũng có mà bắn vào dân cũng nhiều. Hết chiến tranh, hết súng. Hết ngoại thuộc. Hết chỗ dựa. Ông sống với ai, ai bầu cho ông? Trong chiến tranh, ông chọi một, mà đã chọi không nổi. Bây giờ mất súng mà còn phải chọi hai, sức đâu? Cho nên tay ông ký, vì bị Mỹ ép, mà bụng ông đã mở cờ xé chữ ký khi mực chưa khô.

Chẳng có ai là cha đẻ của thành phần thứ ba cả. Thành phần thứ ba không có cha. Họ chỉ có mẹ. Họ tuyên bố: mẹ của họ tên là Việt Nam. Cho nên tên của họ cũng là Việt Nam. Họ gọi mẹ thống thiết: Mẹ Việt Nam! Mẹ Việt Nam! Họ làm thơ tặng Mẹ. Họ hát tặng Mẹ. Họ vào tù vì Mẹ. Họ tuyệt thực. Họ ăn lựu đạn cay. Tất cả chỉ vì một bà mẹ mà họ thấy rách nát đạn bom. Muốn tìm họ ở đâu lúc đó không khó: chỉ cần nghe ở đâu có tiếng gọi mẹ. Tiếng ấy thốt ra từ 1964. Từ 1964.

Mẹ chẳng biết trong những đứa con bà
Đứa nào là quốc gia đứa nào là cộng sản
Mẹ chỉ biết những buổi chiều rất tím
Và máu thằng anh cũng đỏ như máu thằng em.

- Có một nhận định khác, nói như thế này: khi ký hiệp định 1973, ông Thiệu nghĩ mình cũng có trong tay một "thành phần thứ ba" nào đó sẽ theo mình vì sợ cộng sản. Nhận định đó có cơ sở không?

Bất cứ người nghiên cứu nào về những "lực lượng ở giữa" trong bất cứ hoàn cảnh chính trị ở bất cứ nước nào đều biết rằng những lực lượng đó chỉ có thể đứng trên một trong hai vị thế sau: hoặc như một khối độc lập ở giữa, hoặc phân ra làm hai cánh, một cánh nghiêng theo phe tả, một cánh nghiêng theo phe hữu. Đại diện mô hình thứ nhất là chính trị nước Pháp sau Cách Mạng 1789. Phe cách mạng và phe phản cách mạng không ai hạ được ai lâu dài, cho nên, trừ vài khoảng thời gian rất ngắn, sức nặng chính trị quy vào những thành phần ở giữa. Đại diện mô hình thứ hai là chính trị nước Anh. Hai đảng, và chỉ hai đảng, hút vào hai cực như nam châm, các khuynh hướng ở giữa không có đất cắm dùi.

Tình hình năm 1973 ở miền Nam thiên về mô hình thứ hai tuy đồng minh của cánh hữu càng ngày càng mất nhuệ khí và mất dân. Dù vậy, ở giữa vẫn không phải là một khối đồng nhất, vẫn là hai nửa xa lạ nhau trên câu hỏi căn bản: Anh muốn chiến tranh hay anh muốn hòa bình? Anh muốn ngoại thuộc hay anh muốn tự trị? Mậu Thân đào thêm hố chia rẽ giữa hai nửa với nhau, anh bên phải cười anh bên trái là ngây thơ. Bởi vậy, giá như hiệp định 1973 được thi hành, vấn đề cử ai đại diện cho thành phần thứ ba vào Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc đủ để gây bão táp phong ba mới. Bản thân tôi đã thấy trước gay cấn đó từ 1964 vì tai đã nghe:

Chính chúng ta phải có mọi quyền
Quyết chối từ chém giết anh em
Chính chúng ta phải nói Hòa Bình
Đứng lên đòi thống nhất anh em.

"Thành phần thứ ba ngây thơ" đã thai nghén từ dạo ấy, từ Huế, từ sinh viên của trường đại học trẻ trung ấy, từ tiếng thơ ấy, từ tiếng lòng trong trắng ấy, từ miệng của những đứa trẻ mồ côi ấy gọi mẹ. Bởi vậy, thành phần thứ ba vừa có vừa không. Có trong lương tâm của mọi người Việt Nam. Không, như một thực thể chính trị. Nói tôi là thành phần thứ ba, tôi cười, vì tôi vừa không vừa có.

- Ông không xem chính phủ Dương Văn Minh thành lập ở Sài Gòn vào những ngày tận cùng của chiến tranh là hiện thực chính trị, dù chớp nhoáng, của thành phần thứ ba?

Thành phần thứ ba chỉ hiện hữu khi nó là không. Biến không thành có vào lúc ấy là chuyện lấy mây vá trời.

Dân tộc là một, không có bên ngoài với bên trong!

- Trở về hiện tại, ông quan niệm thế nào về hòa hợp dân tộc hiện nay? Ông đánh giá thế nào về những cố gắng của Nhà nước để gây hòa hợp với người Việt ở nước ngoài? Mẹ Việt Nam giờ đây không còn rách nát nữa mà hùng dũng đứng lên với thế giới. Tiếng gọi bây giờ không phải là con gọi mẹ nữa mà là mẹ gọi con. Con có nghe mẹ gọi chăng?

Cả hai đang gọi nhau và cả hai cần thông cảm với nhau. Trong nhiều tích xưa, kẻ thắng thường kính trọng những kẻ bại trượng phu, và đã là trượng phu với nhau thì không có ai thắng ai bại trên lĩnh vực khí phách. Cũng trong tinh thần trượng phu ấy, kẻ thắng thường biết hạ mình. Hạ mình để được người. Đó là vương đạo. Hãy bằng vương đạo mà hòa hợp, mà nghe nhau. Và nghe với tình cảm, chứ không phải chỉ nghe vì lợi ích vật chất.

"Việt kiều" mua nhà được không, đó là lợi ích vật chất. Lợi ích đó cũng quan trọng lắm, nhưng đó vẫn chưa phải là hòa hợp dân tộc. Nhà nước đã làm được rất nhiều chuyện trên lĩnh vực lợi ích vật chất, nhưng tại sao tâm lý chung vẫn là, nói như thơ Xuân Diệu, "lại gần nữa thế vẫn còn xa lắm"? Tại vì vấn đề không phải là lợi ích vật chất, và càng đắn đo suy tính chi ly trên từng lợi ích như vậy năm này qua năm khác, càng chứng tỏ tình cảm mẹ con thiếu vắng đậm đà.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, phân biệt dân tộc ra kẻ ở bên trong với kẻ ở bên ngoài, kẻ nắm một hộ chiếu hay hai ba hộ chiếu, dần dần mất tính chính xác và tính chiến lược. Chưa kể mất luôn tình cảm. Ta thường hay chép miệng so sánh ta với người Hoa. Sao cộng đồng người ta như thế mà cộng đồng của mình như thế? So sánh sao được! Hồi Tưởng Giới Thạch "mất nước", ông đâu có phi thân qua Mỹ? Người Hoa trên thế giới đâu có phải là sản phẩm xuất khẩu của đại thắng 1949?

Đừng nói tình tự dân tộc của người Việt thua người Hoa! Người Việt có những vấn đề mà người Hoa không có vì hoàn cảnh của họ không giống người Hoa! Người Hoa thuận lợi trong mối gắn bó của họ với đất mẹ vì họ cùng nhục cùng vinh với người cầm quyền trên đất ấy. Cái nhục mà họ đã nuốt là cái nhục mà Mao, mà Đặng đã cùng nuốt, cái nhục bị Tây phương xẻ thịt. Cái vinh mà họ hưởng là cái vinh mà Giang, mà Hồ đã mang lại cho họ, cái vinh của một nước bá vương.

Lịch sử sau lưng họ không phải là chiếc thuyền nan mà là tấm biển nơi công viên "cấm chó và người da vàng". Lịch sử trước mắt họ không phải là dấu hỏi cô đơn trên trang giấy trắng mà là thảm đỏ mênh mông trải khắp địa cầu, trải đến đâu Vạn lý trường thành lan ra đến đấy. Họ không có vết thương rỉ máu nên không cần thở than với thuốc dán con rắn. Họ béo tốt, phương phi vì nhận được sâm nhung bổ thận cùng với thế vận hội, phi thuyền do thám cung trăng, thế giới chia hai với Mỹ. Hoàn cảnh họ khác ta, làm sao so sánh được! Cái gì mà mẹ con ta phải học được nơi họ là mối san sẻ cùng vinh cùng nhục với người cầm quyền. Vinh nhục của một dân tộc mới là chuyện đáng nói; mấy cái lợi ích vật chất bèo bọt kia thấm béo gì!

Lãnh đạo hợp lòng dân, ấy là hoà hợp!

- Vậy hòa hợp dân tộc phải quan niệm một cách khác? Cách gì?

Dân tộc là một, không có bên ngoài với bên trong. Khi nghe tin ngư phủ của ta bị "tàu lạ" bắt giữ trong chính biên giới lãnh hải của ta, máu của bên trong có nóng hơn máu của bên ngoài chăng? Vinh nhục có khác nhau chăng? Có cần hòa giải hòa hợp để cùng chung phẫn uất chăng? Khi mới đây tỉnh Quảng Trị làm lễ cầu siêu cho binh sĩ tử trận trong những cuộc chiến kinh hoàng xóa nát cả thành phố, có bên nào, trong hay ngoài, đặt vấn đề chỉ tụng kinh gõ mõ cho quân phục này hay quân phục kia chăng? Có ai không thấy dân tộc hiện nguyên hình là một chăng? Đâu là trong đâu là ngoài khi chạm đến thiêng liêng? Ai dám nói Tổ Quốc không là thiêng liêng đối với đồng bào ta ở Mỹ?

- Để vấn đề được thông suốt, tôi xin đưa ra một giả dụ, tất nhiên chỉ là một giả dụ. Giả dụ Nhà nước ta tuyển mộ chí nguyện quân để bảo vệ chủ quyền của ta trên các hải đảo, và giả dụ các chiến sĩ cũ của Sài Gòn trước đây xung phong tòng quân: họ chấp nhận vui vẻ chiến đấu dưới lá cờ "mới"?

Để vấn đề được thông suốt, tôi cũng nới rộng chuyện thêm. Đây là chuyện của nước Pháp, một biến cố thú vị trong lịch sử Pháp. Năm 1870, Napoléon III thất trận ở Sedan, bị Đức cầm tù cùng với 83.000 tù binh. "Nàng ơi, quân ta thua, ta bị cầm tù", vua đánh điện về cho hoàng hậu vỏn vẹn mấy chữ ngắn gọn như vậy. Và ngắn gọn, Quốc hội truất phế vua, chấm dứt Đế Chế, tái lập Cộng Hòa, bầu lên chính phủ lâm thời để tiếp tục chiến tranh.

Nhưng Pháp kiệt quệ quá rồi trước binh lực của Bismarck, cầm cự được ba tháng thì phải xin thương thuyết. Bismarck tuyên bố chỉ thương thuyết với một chính phủ thực sự đại diện thôi; yêu sách đó buộc Pháp phải bầu lại một Quốc hội mới. Quốc hội mới được bầu lên, phe quân chủ đa số. Từ ngoại quốc, công tước Chambord chuẩn bị về nước để lên ngôi. Nước Pháp lại sắp có tân vương, tái lập quân chủ. Nghi lễ đã trù liệu hẳn hoi, áo mão xe ngựa đã đâu vào đấy tề chỉnh. Bỗng, đến phút cuối, ngài công tước gửi một thông điệp đến Quốc hội đòi triệt hạ cờ tam tài, trương cờ trắng lên: cờ trắng là cờ của vua, cờ của ngài. Ngài viết: "Cờ ấy đã phất phới trên nôi của Ta, Ta muốn cũng cờ ấy che bóng cho Ta trên mồ". Nghe vừa hào hùng, vừa lãng mạn. Nhưng ngay cả những dân biểu quân chủ chính thống nhất trong Quốc hội cũng lắc đầu trước thái độ hào hùng lỗi thời ấy.

Lá cờ tam tài của Cách Mạng 1789 đã trở thành chính đáng, đã nhuốm máu của dân quân hy sinh trên khắp chiến trường, đã trở thành lá cờ của dân tộc. Huống hồ, cờ trắng là cờ riêng của các vua ngày trước, chỉ chính thức là cờ của nước Pháp trong khoảng thời gian 15 năm, thời quân chủ phục hồi 1815-1830. Trước Cách mạng, nước Pháp không có cờ chính thức, cờ trắng chỉ là biểu hiệu của vua, vua đi đâu cờ trắng đi đầu. Công tước Chambord muốn cờ trắng bọc thây thì cũng chẳng sao, nhưng ông muốn cờ ấy cũng là linh hồn của nhân dân, của nước Pháp, thì chẳng mấy ai gật đầu với ông. Cho nên ông chẳng bao giờ làm vua. Ông mất ngôi vì một lá cờ. Cộng Hòa lại trở về với nước Pháp. Và cờ tam tài phất phới.

Tôi không có ý so sánh trường hợp của Chambord với trường hợp của một số cộng đồng của ta ở Mỹ. Chambord áp đặt cờ của vua trên cờ của dân tộc. Đồng bào ta ở Mỹ áp đặt gì ai? Họ chỉ gắn bó với một phần đời của họ. Và nếu phần đời ấy là riêng tư, ta nên tôn trọng như một thiêng liêng riêng tư và trao cho thời gian giải quyết vấn đề của thời gian. Tôi nêu trường hợp Chambord chỉ cốt để gợi lên cái ý cờ riêng và cờ chung. Trong những điều kiện tốt đẹp nào đó mà bà con ta cảm thấy nhận được từ phía Nhà nước, tôi nghĩ họ cũng sẽ có cách giữ được sự trung thành của họ trong tình cảm đối với một biểu tượng cũ riêng tư, và chấp nhận trên lý trí mảnh hồn chung của dân tộc phất phới vinh quang trên đất nước mà họ hãnh diện là thành phần. Vấn đề là hãnh diện chung, vinh quang chung. Có cái vinh ấy, cái tự hào ấy, cùng chia sẻ chung với người cầm quyền, chuyện gì cũng giải quyết được.

- Ông có nghĩ là Nhà nước cũng rất quan tâm về điều đó?

Có chứ! Tất nhiên là có! Ai cũng phải công nhận Nhà nước đã có thiện chí làm được nhiều chuyện, rất nhiều chuyện. Ai cũng thấy tận mắt mối quan hệ càng ngày càng tốt đẹp khi người Việt ở xa đặt chân lên quê hương. Bước qua hải quan năm 2010, tôi tưởng chân mình mang hài bảy dặm so với hải quan ngày trước. Bao nhiêu việc tôi có thể làm được ngày nay, khó tưởng tượng được ngày xưa. Chỉ những ai xấu lòng mới phủ nhận những thành tích to lớn đó. Nhưng điều mà tôi muốn nói không phải là những chuyện đó. Đó chưa phải là hòa hợp, lại càng chưa phải là hòa hợp dân tộc. Bởi vì đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác? Dân tộc không có sông Ngân. Người Hoa không có biên cương. Người Do Thái không có biên cương. Nếu có một bài học phải học nơi thành phần thứ ba ngày trước thì đó là hình ảnh bà mẹ không phân biệt con cái.

Từ sự không phân biệt đó, hãy suy nghĩ: điều gì đem lại hòa hợp ở bên trong, chắc chắn cũng đem lại hòa hợp với bên ngoài. Vậy, câu hỏi chỉ còn là: điều gì đem lại hòa hợp? Hỏi đứa con nào, trong hay ngoài, người mẹ cũng nghe một lời duy nhất: xây dựng một Nhà nước trong sạch, dân chủ. Mẹ mà làm được như vậy, con nào ở xa mà chẳng thấy Tổ Quốc của mình phất phới trên lá cờ chung? Khỏi cần chiêu dụ nhân tài: nhân tài sẽ quy về một mối. Khỏi cần kêu gọi đầu tư: tiền bạc sẽ đổ về một cõi. Máu chảy về tim: khỏi cần ve vuốt núm ruột ở xa. Quê hương nóng hổi ruột gan: khỏi cần thơ văn khế chua khế ngọt.

Từ lâu, ai cũng đều biết mối tình thắm thiết giữa Đảng và dân trong thời giành độc lập, trong thời chiến tranh. Cách mạng đã chiến thắng vì Đảng và dân hòa hợp. Đảng biết hòa hợp vì Đảng biết lãnh đạo. Chắc chắn Đảng cũng biết: lãnh đạo trong chiến tranh khác với lãnh đạo trong hòa bình, lãnh đạo trong xã hội nông nghiệp khác với lãnh đạo trong xã hội tri thức. Ta đã từng nghe nói nhiều từ lời của chính Đảng: phải nhận thức lại phương cách lãnh đạo, phải nhận định lại khái niệm lãnh đạo. Biết mới khó, làm không khó. Làm được thì hợp lòng người, hợp dân chủ. Hòa hợp dân tộc giản dị chỉ có vậy. Không có trong, không có ngoài. Không có người Việt ở gần, không có người Việt ở xa. Tổ tiên đã dạy chúng ta: trăm con cùng trong một trứng. Và nếu cha Rồng có dẫn 50 con lên núi, mẹ Tiên có dẫn 50 con xuống biển, ấy là để bảo vệ Lạng Sơn, ấy là để gìn giữ Biển Đông.

Tình tự dân tộc của người Việt không thua gì người Hoa. Ngày nay, nếu con cái bung ra ngoại quốc, cũng nên xem như cha Rồng dẫn đi để chinh phục toàn cầu hóa, đem lợi ích cho mẹ Tiên. Với tinh thần bảo bọc như thế, mọi vấn đề sẽ được giải quyết hợp tình, hợp máu mủ: nào quốc tịch, nào nhà cửa, nào hộ chiếu, nào quyền lợi, nào bổn phận. Giải quyết những vấn đề đó không phải là hòa giải hòa hợp. Đó là lãnh đạo. Lãnh đạo hợp lòng dân, ấy là hòa hợp. Hòa hợp dân tộc không phải là hòa giải giữa trong với ngoài. Đó là hòa hợp giữa dân với Đảng, giữa Đảng với dân.

- Cám ơn ông. Xin hỏi câu hỏi cuối cùng: ông có ý nghĩ gì đặc biệt về ngày hôm nay, 30 tháng 4?

Tôi nghĩ đến một bài thơ, bài "Après la bataille" của Victor Hugo. Tôi vừa dịch xong, xin tặng bạn đọc Tuần Việt Nam.

SAU TRẬN ĐÁNH

Chiến trường đầy xác chết
Khi trận đánh vừa xong
Cha tôi trên mình ngựa
Duyệt chiến trận một vòng.

Đêm xuống. Ai rên rỉ
Giữa bóng tối thê lương?
Viên sĩ quan hầu cận
Thưa: lính bại ven đường.

Máu thấm hoen cỏ dại
Tên lính chết nửa người
Hổn hển. Thở. Kêu cứu
"Nước! Nước! Nước! Người ơi!"

Sĩ quan! Đây bình rượu
Uống đi, kẻ thương binh!
Viên sĩ quan cúi xuống
Kề miệng dốc ngược bình.

Như chớp, người kia rút
Súng nổ đạn vèo bay
Mũ cha tôi rơi xuống
Ngựa cong vó vẫy tai.

Thản nhiên cha tôi nói :
"Cứ cho uống tràn đầy".


GS. Cao Huy Thuần: "Dân tộc không có sông Ngân"

NguoiBuonGio - Thầy trò nước Vệ

Thầy
- Nếu có kẻ nói xấu triều đình ta, các em sẽ phản đối thế nào ?

Học trò
- Em sẽ bảo, chúng mày cảm thấy không thích thì hãy ra khỏi đất nước này, tìm nơi khác mà sống như chúng mày thích.

Thầy.
- Nếu ra ngoài chúng vẫn tiếp tục nói xấu triều đình ?

Học trò
- Em sẽ nói, cái bọn bỏ đất nước mà đi thì làm gì có tư cách để nhận xét gì về đất nước.


Thầy
- Nếu có kẻ bàn cuộc chiến Nam Bắc nói thế nào ?

Trò
- Cuộc kháng chiến vĩ đại đánh đuổi ngoại xâm của nhân dân ta, một cuộc chiến hào hùng, anh dũng gắn liền với sự lãnh đạo tài tình của triều đình ta, mỗi năm đến ngày này nhân dân ta lại bồi hồi…qua đó cho chúng ta thấy tinh thần bất khuất thà hy sinh tất cả chứ không chịu cúi đầu…cần phải tôn vinh để nhắc nhở thế hệ sau về cha anh…

Thầy
- Còn cuộc chiến biên giới phía Bắc ?

Trò
- Quá khứ nên khép lại, hòa giải trong tình hữu nghị, không nên khơi lại những gì đã qua khiến sứt mẻ tình cảm hai bên. Trân trọng những gì đang có, nhân dân ta yêu chuộng hòa bình không mong muốn nhắc tới chiến tranh vì sẽ động đến những đau thương , mất mát, cùng nhau hợp tác hướng tới tương lai, xây dựng phát triển kinh tế mới quan trọng.

Thầy
- Về tôn giáo, tín ngưỡng nếu nghe theo chúng ta thì sao?

Trò
- Tin tưởng vào đường lối sáng suốt của triều đình, đồng hành cùng dân tộc, có tinh thần xây dựng, yêu chuộng mong muốn hòa bình, ổn định. Tốt đời đẹp đạo

Thầy
- Nếu có kẻ phản đối.

Trò
- Lợi dụng quyền tự do, dân chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống đối, xuyên tạc, kích động nhằm gây xáo trộn đời sống yên lành của nhân dân ta..

Thầy
- Du khách nước ngoài đến thăm nhận xét tốt về đất nước thì ta nói gì ?

Trò.
- Cuộc đổi mới mà triều đình ta lãnh đạo hiển nhiên đã đạt nhiều thành quả, đông đảo chính khách quốc tế đến nước ta đã chứng kiến tận mắt và bày tỏ tình cảm ngưỡng mộ..

Thầy.
- Nếu họ chê ?

Trò
- Tuy cuộc đổi mới đã có thành quả rõ ràng, nhưng cá biệt có một thiểu số chậm tiến bộ trên thế giới cố tình đưa ra những ý kiến lệch lạc nhằm bôi nhọ ác ý….


Thầy
- Quan lại triều đình khi phạm tội, lỡ có bị xét xử thì xử thế nào ?

Trò
- Pháp luật nước ta vốn nhân đạo, mang tính giáo dục , tạo điều kiện cho người phạm tội sửa chữa sai lầm , trở thành người có ích cho xã hội.

Thầy
- Nếu là dân ?
Trò
- Pháp luật nước ta nghiêm minh. Cần phải trừng trị nghiêm khắc để có tác dụng răn đe kẻ khác.

Mời bà con bổ sung thêm về giáo dục tuyên huấn nước Vệ

NguoiBuonGio - Thầy trò nước Vệ

Monday, April 26, 2010

Tôi mơ về một chiếc tàu nho nhỏ… « Bauxite Việt Nam

André Menras Hồ Cương Quyết

Ông André Menras, công dân Việt Nam từ cuối năm 2009 với tên Việt Hồ Cương Quyết, một cộng tác viên tích cực của BVN, lại vừa gửi đến chúng tôi bài tạp luận chứa chan cảm xúc dưới đây, nói lên những nỗi phẫn khích của ông khi nghe tin 9 dân chài miền Trung vừa bị Trung quốc bắt đòi tiền chuộc một cách phi lý. Ông liên tưởng đến một nước Trung Quốc với hai bộ mặt, một bộ mặt là cái mặt có vẻ mỹ miều có đầy đô-la để quyến rũ thế giới vào những luận điệu về một chủ nghĩa xã hội đẹp đẽ mà phía sau nó vừa là những câu chuyện tốt lành về giữ gìn sinh thái, khảo cổ, thiên văn, du lịch trên biển đảo, vừa là sự chạy đua gấp rút về sức mạnh quân sự, và một bộ mặt khác là cái mặt quỷ răng nanh lởm chởm, chuyên hoành hành trên vùng biển lấn cướp của nước khác, nuốt người dân nước Việt không tấc sắt vào bụng bao nhiêu cũng không vừa.

Ông thương cảm nghĩ đến người ngư dân miền Trung phải gồng mình như chàng chăn cừu David cổ xưa chỉ có một chiếc cung bắn đá mà phải quyết thắng kẻ xâm lược khổng lồ đầy đủ vũ khí Goliath. Khi được tin chính quyền Đà Nẵng đã không cho phép ngư dân nghèo giữ lại chỗ neo đậu mà mình vẫn có để lấy bờ biển bán cho các doanh nhân nước ngoài giàu có làm resort, trong đó có doanh nhân Trung Quốc, ông càng đau uất, liên tưởng đến số phận những ngư dân người Việt đang vừa phải phấn đấu gian nan trên biển cả như chàng Ulysse trong thần thoại Hy Lạp xông pha qua không biết bao nhiêu hiểm trở sau khi đi đánh thành Troie trở về, trong khi ở nhà thì trang trại của người vợ yêu dấu – nàng Pénélope quyết tâm chờ chồng, đã bị bọn hào mục dọn dẹp sạch sanh mất cả.

Nhưng ông André Menras không hề bi quan. Trong tình thế mà người ngư dân Việt Nam đang mất cả chì lẫn chài như thế, ông vẫn nuôi một ước mơ giống như trong cổ tích: làm sao huy động được 500 tàu cá của đủ các tỉnh miền Trung và miền Nam gộp lại, làm thành một đoàn thuyền hùng hậu, không có tấc sắt nào trong tay mà chỉ có phóng viên nhiếp ảnh và truyền thông đi cùng, kéo nhau đến Hàng Sa đòi lại những người bạn nghề đồng bào ruột thịt của mình đang bị Trung Quốc giam giữ. Nếu làm được thế, kẻ láng giềng phương Bắc mang hai bộ mặt người và quỷ kia tất phải lâm vào tình thế lúng túng và trước sau thế nào cũng lòi cái mặt quỷ ra với thế giới, thông qua cuộc biểu tình đầy khí thế mà rất ôn hòa kia. Ông tình nguyện sẽ đóng một con tàu nhỏ nhoi để đi với đoàn ngư dân đông đảo ra tận Hoàng Sa.

Y tưởng của ông André Menras quả là đẹp và giàu sức kích thích. Tuy nhiên, không biết nó có bay bổng quá hay không, nhưng kinh nghiệm đã cho thấy, các nhóm thanh niên nước ta ở một số vùng, chỉ mới hăng hái đeo băng khẩu hiệu «Hoàng Sa là của Việt Nam» đi biểu tình trên đất liền thôi đã bị lực lượng chức năng của Nhà nước Việt Nam giải tán không thương tiếc, và nhiều người đến nay vẫn còn phải ngày ngày viết «thu hoạch» về ý nguyện yêu nước ngay thẳng của họ ở trong nhà tù. Có lẽ vì mới trở thành một công dân Việt Nam, ông André Menras quen nghĩ về Nhà nước Việt Nam cũng lịch thiệp và biết nhường nhịn dân chúng trong khi tiếp xúc với với dân như Chính phủ các nước bên Châu Âu ? Hay vì ông từng đọc tin qua báo chí «lề phải» mà tưởng tượng ra như thế?

Dù sao cũng chúc cho người công dân Việt Nam rất nhiệt huyết với Tổ quốc mới thực hiện được giấc mơ lãng mạn của mình. Mọi ước mơ tốt đẹp không bao giờ là sự thật nhưng nó có tác dụng truyền cho người ta nhiều nghị lực hơn đẻ phấn đấu tiếp cận sự thật, cũng giúp người ta nuôi dưỡng một niềm hy vọng nào đấy để vẫn có thể đứng vững trước mọi sự thật phũ phàng.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết tâm huyết của ông André Menras Hồ Cương Quyết - cả bản tiếng Việt và bản tiếng Pháp đều do tác giả chấp bút – với bạn đọc.

Nguyễn Huệ Chi

Trung Quốc bắt đòi tiền chuộc

(Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt hồi năm 2009.
Photo courtesy of forumlyson.)

(Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt hồi năm 2009. Photo courtesy of forumlyson.)

Trong những ngày xuân đầy nắng ấm này, để thư giãn đầu óc và phó mặc mọi âu lo cho thiên nhiên, tôi đã đi thiền trên những đụn cát cách nhà tôi sáu cây số. Trước mặt là biển Địa Trung Hải bao la xanh biếc mà Đế quốc La Mã ngày xưa gọi là «mare nostrum», tức là «biển của chúng tôi». Ngày nay, nó không còn thuộc về một Đế quốc mà là của tất cả các quốc gia ngự trị quanh bờ biển, đồng thời cũng là lộ trình êm ả của các nhà hàng hải trên toàn thế giới.

Điều tôi không đoán trước, trong khi nghiền ngẫm về thờì gian trôi qua, tiếp xúc với cát, gió biển nồng đượm hương vị muối và lắng nghe tiếng sóng vỗ bờ, nhắm mắt lại, tất cả đã đưa tôi về bên kia đầu Thế giới. Đến một vùng biển khác mà tôi yêu mến, Biển Đông Nam Á mà đế quốc mới Trung Hoa và bạn bè của họ gọi là Biển Nam của Trung Quốc, nhưng ở Việt Nam , đất nước thứ hai của tôi gọi là Biển Đông. Là công dân của hai vùng biển, mỗi nơi có những dân tộc và đất nước khác nhau, tâm trí tôi lướt từ bên này qua bên kia, cuối cùng tôi mơ có được một chiếc tàu nhỏ…

1

Sáng tháng Tư năm 2010 hôm ấy, Biển Địa Trung Hải dường như tĩnh lặng và tự do. Như thể đang nghỉ sau những phong ba bão táp của các đế chế trong quá khứ: Carthage, Hy lạp, Rô Ma (La Mã)… Như thể nó đã lãng quên những trận thủy chiến dã man không kể xiết, những vụ đắm tàu lạ mà nó vừa là chiến trường, vừa là nghĩa địa phẳng đã chôn vùi hàng trăm chiếc tàu, hàng trăm ngàn sinh mạng mà không bao giờ trả lại…Địa Trung Hải, nó dường như không thèm quan tâm đến sự phong phú vô tận của chất Lithium đang nằm sâu dưới lòng của nó, những thứ khoáng sản mà hiện nay đang là sự thèm muốn của các nước như Tây Ban Nha, Pháp, Angiêri, Ý, Hy Lạp… trong cuộc chạy đua chuẩn bị «kỷ nguyên hậu dầu hỏa». Ngoài ra, là điểm đầu tiên của du lịch thế giới, nó tìm cách cám dỗ mọi người. Nó điều động các nước ở chung quanh để tẩy sạch sự ô nhiễm cho mình và thử quên đi những con thuyền bất hạnh chở đầy dân di cư đói khát vừa tắp vào bờ biển để theo đuổi một ảo tưởng Châu Âu.

2

Tóm lại, dù chưa hoàn toàn bình yên nhưng nó đã vượt qua những bi kịch và giông bão Cổ đại dù sự trưởng thành của văn mình nhân loại đã đẩy lùi dần sức mạnh của nòng đại bác của các tư tưởng đế quốc, bành trướng ngày xưa…

Miên man trong dòng suy tưởng, tôi chợt quay về Biển Đông, nơi tôi tưởng tượng như mình đang chìm vào không gian vào thời Trung Cổ, thậm chí Cổ đại. Với một đế quốc Trung Hoa tự cho mình là kẻ thống trị, với một luật lệ duy nhất của sức mạnh kinh tế đương thời và sức mạnh quân sự. Một đế quốc có hai bộ mặt. Một mặt lấn chiếm, giết chóc, bóc lột, gây ô nhiễm, bắt bớ và cầm tù, rượt đuổi, làm đắm tàu và chém giết. Mặt khác, với vô số đồng đô-la bỏ ra, nó khoác lên vẻ hiện đại của cuộc chiến tranh lấn chiếm với những luận điệu về sinh thái, khảo cổ, thiên văn, du lịch kẻ cả về chủ nghĩa xã hội.

3

Đầy mưu toan chước quỷ với những mánh khoé thật khó tưởng tượng. Tầm như cái lưỡi khổng lồ thè ra trước mặt thế giới, như một thằng bé cao lớn ích kỷ đến béo phì, vừa trẻ con, vừa nguy hiểm bởi vì nó chỉ dựa vào thói phàm ăn và sở thích độc đoán! Hiển nhiên là các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhầm thời đại, không rút ra được một bài học nào của lịch sử khi có tư duy chiến tranh lỗi thời này.

Bởi vì, quả thật cuộc chiến thầm lặng ấy là phi nghĩa, phi lý, tàn nhẫn. Một cuộc chiến tranh tiêu hao mà các nhà lãnh đạo trung Quốc đã tiến hành từ nhiều năm nay nhằm vào những người dân chài nghèo khổ của Việt Nam. Đằng khác, lại là cuộc chiến tranh mà những người David Việt (1) , không có khí giới và yêu chuộng hòa bình chống lại Goliath Han (1) trang bị vũ khí đến tận răng. Họ đã trở thành những anh hùng sau mỗi lần ra khơi, những người mang vinh quang về cho Tổ quốc, những người bảo vệ ngư trường của tổ tiên và khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam trên những vùng biển rộng ấy và trên các hòn đảo bao quanh.

4

Hôm nay, khi đọc tờ nhật báo, tôi được biết có thêm 9 người dân chài ở đảo Lý Sơn bị bọn cướp biển bắt cóc ngày 14 tháng Tư và giam giữ tại Hoàng Sa mà TQ đã chiếm đóng của VN, để đòi tiền chuộc 70.000 NDT. Họ đã gặp 12 anh em đang bị cầm tù hồi tháng Ba. Hình ảnh ở làng Bình Châu, một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Bưởi và các chị em bạn gái cứ luôn trông ngóng những người chồng của mình khiến tôi liên tưởng đến nàng Pénélope (2) mong chờ Ulysse (2) trở về từ cuộc chiến tranh Troie (2). Có cái gì đó đang âm thầm xảy ra trên vùng biển tưởng chừng như đang bình yên ấy, một chiếc ngư lôi nặng mấy tấn có những chữ của nước Trung Hoa lại trôi «vô tư» trên vùng biển Quảng Trị như đang ngầm báo, hay đe dọa đều gì đó không ? Đọc được tin này, tôi không muốn tin vào hai chữ «hữu nghị» mà họ đang cố ý áp đặt và nói đãi bôi với quê hương thứ hai của mình nữa. Tôi nghi ngờ!

Trong đau đớn và giận dữ, tôi được biết những ngư dân nghèo ở Đà Nẵng, thành phố mà tôi biết bao nhiều yêu mến, thành phố anh hùng xưa kia, mới bị đuổi khỏi cảng neo đậu bởi một dự án đô thị nhằm ưu đãi cho doanh nghiệp lớn mà không nhận được sự gíup đỡ của chính quyền để tìm một nơi trú mới cho những chiếc thuyèn nghèo nàn của họ. Vậy, chiến tranh đốí với họ không chỉ ở ngoài khơi, bờ biẻn cũng có nhiều nơi cấm những người đánh cá vì thỉnh thoảng nó bị bán cho các nhà tư bản , trong đó có tư bản Trung Quốc. Chẳng hạn như trong cùng mợt thành phố Đà Nẵng mà lại có những Resort mênh mông tráng lệ, một Casino xa hoa… Nàng Pénélope sắp sửa không còn nhà ở cảng hoặc ở bờ biển để trông chờ Ulysse. Và Ulysse, biển bị mất, đất bị cấm, chỉ còn có nước kêu trời…

Những công hàm ngoại giao, những cuộc gặp gỡ, những tuyên bố được lặp đi lặp lại khẳng định quyền chủ quyền, những kháng nghị chính thức, những toan tính toàn cầu hóa thảm kịch này thông qua các cuộc hội thảo… Đến nay, sự hữu hiệu của các bước tiến hành chỉ đến mức đó không thuyết phục được các lãnh đạo Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền của VN trên vùng biển và hải đạo.

Từ lâu VN đã có đầy đủ luận chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh rõ ràng chủ quyền của mình. VN đã thuyết trình đầy đủ và sẽ phải tiếp tục việc làm đó. Thiết nghĩ, có nên cứ chờ mãi sự xúc động không chắc có của giới ngoại giao quốc tế trước những ăn thua về kinh tế với TQ? Có nên cứ để cho thời gian củng cố sự lấn chiếm để biến sự xâm chiếm thành chính thức «de facto» khi ta càng lùi họ càng tiến tới? Có nên cứ để cho nỗi sợ hãi và sự cô lập làm mất đi lòng dũng cảm của các «chiến sĩ» ngư dân trước mặt kẻ cướp?

Dường như đang đáp lại những nỗ lực ôn hòa, hữu nghị từ phía Việt Nam là sự khiêu khích thường xuyên của TQ bằng một cuộc đối đầu vũ trang. Họ đang muốn nếu VN phản đối bằng vũ trang, dù là động thái nhỏ nhất, sẽ là cái cớ mà TQ chờ để vận hành cỗ máy chiến tranh xâm lược mà họ đang công khai chuẩn bị? Thực tế, họ đã chứng tỏ điều đó nhiều lần trong quá khứ. Lòng nhân đạo và tôn trọng các dân tộc đối với họ rất xa lạ. Chúng ta cũng đã biết họ đã tạo điều kiện, đã làm mù quáng dân tộc họ qua một chủ nghĩa quốc gia mang tính chất xâm lược hiếu chiến, cấm đoán những phản kháng… đến độ nào.

5

Vậy nên, tôi có một đề nghị khiêm tốn (cũng có thể ai đó cho rằng hơi lãng mạn và thiếu thực tế) nhưng kiên quyết đối với những ngư dân VN mà tôi biết rất rõ họ không muốn từ bỏ nghề đánh cá. Một đề nghị chứng tỏ sự đoàn kết, tinh thần bất khuất, yêu chuộng hòa bình của người Việt.

Nên chăng, dưới sự lãnh đạo của Hội Nghề cá quốc gia, chúng ta có thể kêu gọi và tổ chức một đoàn tàu đánh cá gồm 500 chiếc hoặc nhiều hơn nữa, đến từ nhiều tỉnh duyên hải khác nhau như Quảng Trị, T. Thiên Huế, Q. Nam, Q Ngãi, Quy Nhơn v.v. tổ chức một chuyến cùng nhau ra khơi hướng về Hoàng Sa. Đoàn ngư dân ày sẽ đi chung với nhau cùng với đông đảo đại diện các phương tiện truyền thông quốc gia và quốc tế, không có quân đội, hải quân, chỉ là những ngư dân bình thường, thẳng tiến đến quần đảo Hoàng Sa của VN và đảo Phú Lâm để đòi những tên cai ngục trả tự do cho đồng bào, đồng nghiệp vô tội của mình ?

Những kẻ lấn chiếm TQ trên quần đảo Hoàng Sa liệu có dám bắn vào các ngư dân tay không vũ khí trước các ống kính camera như những tên thực dân Israel đã làm đối với những người dân palestine không? Liệu họ có dám cầm tù, bắt làm con tin hàng trăm dân chài không ? Họ có dám chường bộ mặt bị lột trần của mình trước toàn thế giới không ? Tôi cho chắc là không.

Đó là một hành động kiên định, hợp lý, mang tính hòa bình và hợp pháp, chắc chắn sẽ góp phần quóc té hóa một cách tích cực các vấn đề Biển Đông.

Rất nhiều kênh đài truyền hình thế giới sẽ đưa ra những hình ảnh đó như những lời tố cáo xác thực, như bộ mặt thật của lãnh đạo Bắc Kinh và gương mặt thật và xứng đáng của nhân dân VN. Dư luận sẽ phán xét.

Có thể, khi đọc đến đây, bạn sẽ cho rằng, tôi đang đưa ra giả thuyết «đánh cược» trên sinh mạng của những ngư dân vô tội? Tôi nói nghiêm túc và thành ý. Bởi khi đứng trước hiện trang bị o ép và gây áp lực, đôi khi, những hành vi có vẻ là ngu xuẩn và thiếu thực tế, lại vô cùng lợi hại.

Rồi, tôi suy nghĩ thêm, nếu Hội Nghề cá làm được điều này, tôi, nhân danh một công dân mới của Việt Nam, sẽ bằng cách nào đó, sắm cho mình một chiếc tàu, như một thủy thủ đoàn, cùng các bạn yêu mến Việt Nam và trăn trở với biển đảo quê hương, giong thuyền ra khơi vói 500 tàu đánh cá đó. Một chuyến đi hướng tới quyền lợi của con người và dân tộc vì phẩm giá và công lý. Và đó sẽ là sự đóng góp cụ thể của tôi vào cuộc thảo luận về «Quốc tế hóa Biển Đông», nhằm bảo vệ đất nước thứ hai của tôi.

A.M. HCQ

Chú thích :

(1) (2) Trong Kinh Cựu ước, có một người anh hùng mang tên David. Quê hương của họ bị láng giềng xâm lược. Trước khi hai quân đội đụng đầu mỗi phía đồng ý việc thắng/thua do một cuộc đấu quyết định giữa hai anh hùng đại diện hai quân đội. David người chăn cừu nhỏ con chỉ có một cái ná bắn đá trong tay đã thắng kẻ xâm lược khổng lồ Goliath vũ trang đến tận răng…

(3) (4) (5) Trong huyền thoại Hy lạp có một chuyện nổi tiếng về một phụ nữ tên Pénélope đã chung thủy chờ suốt hai thập kỷ người chồng của mình, một anh hùng tên Ulysse đã đi xa trên biển tham gia vào cuộc chiến tranh tại một xứ tên Troie.

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Bản tiếng Pháp

Je rêve d’un chalutier

André Menras

En ces jours ensoleillés de printemps, pour me reposer l’esprit et confier mes soucis à la nature, je suis allé méditer sur le sable des dunes à six kilomètres de chez moi, face à l’étendue bleue de la mer Méditerranée que les Romains de l’Empire appelaient « mare nostrum », notre mer. Aujourd’hui, elle n’est plus celle de l’Empire mais celle de tous les pays riverains en même temps qu’un passage tranquille pour les navigateurs du monde entier.

Immanquablement, cette méditation sur le temps qui passe, avec le contact du sable, l’air chargé d’iode de la brise marine et le bruissement des vagues, tout cela m’a transporté, les yeux fermés, à l’autre bout du Monde vers une autre mer que j’aime, la Mer du Sud Est asiatique celle que les Chinois de l’Empire et leurs amis appellent mer de Chine du Sud et que mon deuxième pays appelle Mer de l’Est. Citoyen de ces deux mers, chacune bordée de peuples et de pays différents, mes images naviguent de l’une à l’autre et, par association d’idées, je me prends finalement à rêver d’un chalutier…

En ce matin d’avril 2010, la Méditerranée paraît calme et libre. Comme si elle se reposait des dominations des empires passés : Carthage, Grèce, Rome… Comme si elle avait oublié les batailles navales innombrables, sauvages et meurtrières, les naufrages classiques ou « étranges » dont elle fut le théâtre, les centaines de milliers de vies qu’elle a prises et n’a jamais rendues…Elle ne semble pas s’inquiéter de l’immense richesse en lithium de ses tréfonds, objet actuel des convoitises espagnoles, françaises, algériennes, italiennes, grecques…en course pour l’ère de l’après-pétrole.

Première destination touristique du Monde, elle fait la coquette. Elle mobilise les pays qu’elle baigne pour faire la toilette de ses pollutions et tente d’oublier les embarcations de fortune chargées d’immigrés faméliques qui viennent s’échouer régulièrement sur les plages espagnoles, françaises, grecques et italiennes à l’assaut du mirage européen. Bref, sans être en parfaite quiétude, elle a dépassé les tragédies et les antiques tempêtes de son enfance pour devenir adulte dans un monde où la loi de tous et le combat des peuples fait reculer peu à peu la force du canon d’un seul ou de quelques uns.

Alors, toutes proportions gardées dans la comparaison, quand mes pensées reviennent à la Mer de l’Est, je crois me retrouver au Moyen- Age et même dans l’antiquité. Un empire chinois qui se veut dominateur, sans partage, avec comme seule loi celle de sa puissance économique du moment et de sa force militaire. Un empire à deux visages qui occupe en tuant, exploite, pollue, capture et emprisonne, coule et tue encore, tandis qu’ à grands coups de dollars il habille de modernité bien pensante sa guerre d’occupation avec des arguments écologiques, archéologiques, météorologiques, touristiques, socialistes… La ficelle est grosse. Grosse comme l’énorme « langue de bœuf » tirée à la face du Monde par un grand gamin égoïste, déjà obèse, aussi puéril que dangereux car il n’a de repère que sa gloutonnerie et ses dictatoriaux caprices! C’est flagrant : les dirigeants chinois se sont trompés d’époque et n’ont tiré aucune leçon de l’Histoire en menant cette guerre d’un autre temps qu’ils s’acharnent à habiller de neuf.

Car c’est bien d’une véritable guerre qu’il s’agit. D’une sale guerre, sourde, silencieuse, impitoyable, une guerre d’usure que les dirigeants Chinois ont déclarée depuis plusieurs années aux pêcheurs pauvres du Vietnam. Mais c’est une guerre où ces David Viet, désarmés et pacifiques face au Goliath Han armé jusqu’aux dents, deviennent des héros à chacune de leur sortie au large, porteurs de l’honneur de leur patrie, défenseurs de leurs espaces de pêche ancestraux et du droit souverain du Vietnam sur ces vastes étendues d’eau et sur les îles qu’elles baignent. Aujourd’hui 19 avril, en lisant la presse quotidienne, j’apprends que 9 nouveaux pêcheurs de l’île de Ly Son ont encore été capturés par les pirates chinois le 14 avril et détenus dans Hoang Sa, archipel confisqué par la Chine au Vietnam, contre rançon de 70000 NDT. Ils vont rejoindre douze autres pêcheurs déjà emprisonnés depuis le 22 mars. Dans le village de Bình Châu Madame Nguyễn Thị Bưởi et ses amies attendent toujours leurs maris comme Pénélope attendait Ulysse de retour de la guerre de Troie. D’autres emprisonnements se préparent tandis que des pêcheurs de Quang Tri remontent dans leur chalut, au large de leur côte, une torpille chinoise de plusieurs tonnes…

Dans cette situation, pour ajouter à ma douleur et à ma colère, j’apprend aussi que les pêcheurs pauvres de Da Nang , ville que j’aime tant, ville jadis héroïque, sont chassés de leur port d’ancrage par un projet urbain visant à favoriser le grand business, sans aide des autorités pour trouver un nouvel abri à leurs pauvres embarcations. La guerre n’est pas qu’au large, la côte est aussi en de nombreux endroits zone interdite aux pêcheurs, vendue quelquefois aux capitaux chinois comme dans cette même ville de Da Nang : immense et fastueux Resort, Casino luxueux … Pénélope n’aura bientôt plus de maison dans le port ou sur la plage pour attendre Ulysse. Et Ulysse, mer perdue, terre interdite, n’aura plus que le ciel pour pleurer.

Notes diplomatiques, rencontres d’ambassadeurs, déclarations réitérées de souveraineté, protestations officielles, tentatives d’internationaliser cette tragédie par des colloques: l’efficacité de ces démarches n’ont jusqu’ici pas convaincu les dirigeants chinois de respecter les lois internationales et la souveraineté du Vietnam sur ses espaces maritimes et insulaires. Le Vietnam possède largement et depuis longtemps tous les arguments historiques et juridiques pour justifier clairement de ses droits souverains. Il les a largement exposés et, bien sûr, doit continuer de le faire. Mais faut-il attendre indéfiniment l’improbable émotion de la diplomatie internationale face aux enjeux économiques qu’opposent les Chinois ? Faut-il laisser le temps travailler pour la consolidation de l’occupation ? Pour son officialisation de facto ? Plus on recule, plus ils avancent, plus ils s’installent. Faut-il laisser la peur et l’isolement venir à bout du courage quotidien et finalement abandonner l’espace national aux pillards ? D’un autre côté, faut-il répondre à la provocation chinoise permanente d’un affrontement armé, prétexte recherché par elle pour mettre en mouvement la machine militaire d’agression qu’elle affûte au grand jour ? On sait de quoi les dirigeants chinois sont capables. Ils l’ont prouvé maintes fois dans le passé. Humanisme et respect des populations leur sont étrangers. On sait aussi à quel point ils ont conditionné, aveuglé leur propre peuple dans un nationalisme agressif et belliqueux, à quel point ils ont bâillonné leurs opposants.

Alors, j’ai une modeste mais ferme proposition à faire aux pêcheurs du Vietnam qui, je le sais bien, ne veulent pas renoncer à leur vie de pêcheur et à leur fierté de Vietnamiens. Une proposition pour qu’ils fassent entendre leur voix pacifiquement et solidairement. Sous la direction de l’Association nationale des pêcheurs pourquoi ne pas organiser une flotte de 500 chaluts ou plus, mobilisée à partir de différentes provinces côtières comme Quang Tri, Thua Thien Hue, Quang Nam, Quang Ngai, Quy Nhon…Ils se dirigeraient ensembles, accompagnés par de nombreux représentants des media nationaux et internationaux, sans escorte militaire, vers l’Archipel vietnamien de Hoang Sa et l’île de Phu Lam pour exiger des geôliers la libération de leurs camarades innocents ?

Les occupants chinois oseront-ils tirer devant des caméras sur les pêcheurs désarmés comme les colons israéliens l’ont fait sur les palestiniens ? Oseront-ils emprisonner, garder en otages des centaines de chalutiers ? Oseront-ils se montrer à visage découvert à l’ensemble du Monde ? Voilà une action ferme, raisonnable car pacifique et légitime, qui sans aucun doute contribuera à internationaliser positivement les problèmes de la mer de l’Est selon le souhait des autorités vietnamiennes. Toutes les télévisions du monde montreront ces images comme autant d’authentiques accusations, comme le vrai visage des dirigeants de Pékin et le vrai visage du peuple vietnamien. L’opinion jugera.

Alors, si par bonheur cette action était sérieusement envisagée, je déclare solennellement à mes chers amis pêcheurs que j’emprunterai de l’argent pour acheter un chalutier dont je deviendrai membre d’équipage et que ce sera un honneur pour moi de participer à cette superbe pêche. Plein cap sur le droit des Hommes et des nations pour la dignité et la liberté. Et ce sera aussi ma contribution concrète au débat sur l’internationalisation des drames de la mer de l’Est.

A. M.


Tôi mơ về một chiếc tàu nho nhỏ… « Bauxite Việt Nam

Monday, April 19, 2010

Nỗi đau toàn cầu hóa « Hiệu Minh Blog

Cách đây 800 năm, vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn tung bay trên cát thảo nguyên Mongolia và chinh phục tất cả các bộ lạc trong vùng Trung Á bao gồm một phần của Trung Quốc vì họ thường xuyên xung đột với nhau, cướp phá và giết người man rợ. Quốc gia Mongolia hùng mạnh được lập nên bởi sự thần phục của nước nhỏ chư hầu.

Người hùng vĩ đại đó đã chinh phục cả Trung Quốc, tràn sang nước Nhật, xuống phương Nam, đưa quân sang thành Baghdad và san phẳng thành phố này. Rồi những kỵ sỹ có thể ngồi trên lưng ngựa, vừa phi nước đại vừa bắn, bách phát bách trúng, giúp cho Thành Cát Tư Hãn thống trị thế giới.

Họ không hề biết đã tham gia vào công cuộc “toàn cầu hóa” version 1.0, trong đó những công dân chỉ “thuộc” về nước Mongolia.

Người Mongolia tự hào về Thành Cát Tư Hãn. Tên “Khan” được gắn cho những gì đẹp đẽ và huy hoàng nhất. Người Việt ta có tôn vị vua này là thánh sống không? Chắc là không. Người Trung Quốc cũng thế. Người Trung Đông hay châu Âu ghê sợ lính Mongolia man rợ.

Vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên có đế quốc La Mã (Imperium Romanum) có vùng đất rộng lớn bao quanh quanh Địa Trung Hải ngày nay. Chiến binh La Mã cũng tàn bạo không kém. Vó ngựa và kiếm của họ đã làm bao đầu rơi máu chảy ở khắp châu Âu và châu Phi.

Người Italia có tự hào về Augustus hay Ceasar không? Chắc là có vì họ từng làm bá chủ một châu lục. Nhưng kẻ bị thần phục có ca ngợi Ceasar? Hoàn toàn không. Vì Ceasar là kẻ giết người.

Cách đây gần thế kỷ có người Đức tự cho mình là thượng đẳng, người Nhật tự phong mình là anh cả da vàng, để rồi gây ra chiến tranh thế giới thứ 2, nhằm chiếm ngôi bá chủ hoàn cầu.

Hàng trăm triệu người chết vì ý muốn áp đặt thứ văn minh thượng đẳng hay anh cả lên các dân tộc khác.

Những miền đất có xích xe tăng của Đức nghiến nát, kiếm Samuraj của Nhật chặt đầu người ngọt xớt trong suốt thế chiến có mang ơn người chiếm đóng hay không?

Trong trường hợp này, không những kẻ bị chiếm đóng căm thù, mà chính những kẻ đi gây tội ác cũng tự thấy nhục nhã, vì những ý tưởng điên rồ.

Từ ngàn năm, những cuộc chinh phạt đẫm máu của phương Bắc xuống phương Nam trong đó có Việt Nam, gây ra biết bao cảnh đầu rơi, chia li và tan nát.

Trong cuộc chiến tranh Mỹ-Việt có tất cả các ông lớn tham gia. Chính họ (Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô) ép hai phía Việt nam phải chia đôi đất nước. Rồi các vị này ngồi chơi ván cờ “chiến tranh lạnh”, “hiệu ứng domino” hay “bành trướng chủ nghĩa cộng sản” mà Việt Nam là con tốt trên bàn cờ đó.

Có nên hiểu đây là tình quốc tế hữu nghị kiểu XHCN để rồi theo lời khuyên như của một Tiến sỹ viết trên BBC “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”.

Những đế chế từ xa xưa đến bây giờ đều muốn chinh phục các nước nhỏ và bắt họ phải thần phục, thậm chí giết cả một dân tộc để đồng hóa.

Mỗi thời đại đều có cách chiếm hữu lãnh thổ khác nhau. Thời trung cổ hay phong kiến, ai mạnh có quyền chiếm hữu tất cả.

Nhưng ngày nay kiểu dùng sức mạnh đã qua rồi. Họ dùng kế toàn cầu hóa ver 2.0 mà các công dân không thuộc về quốc gia nào để cho ông lớn ngồi trên kiếm lời.

Sự xâm lược được thực hiện văn minh hơn, bởi văn hóa, bởi sức mạnh mềm, bởi hàng hóa chất lượng cao và kể cả tiền cho vay nặng lãi dưới danh nghĩa ODA (vốn vay phát triển).

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng?

Tỉnh táo một chút sẽ nhận ra đó cũng là xích sắt xe tăng, vó ngựa và kiếm samuraj, xâm lược tinh tế. Chả có ai mang món lợi đến vì tình quốc tế cao cả như người cộng sản ấu trĩ vẫn thường hiểu. Quốc gia giỏi là phải biết sống năng động trong bối cảnh đó để phát triển.

Mối nguy hiểm trong tiến trình này là một thanh niên sống trong thế giới hội nhập hỗn mang, đầy cạm bẫy, lại không biết mình thuộc vào dân tộc nào.

Sinh ra tại Việt Nam, nói và viết tiếng Việt rất giỏi, được đào tạo bài bản bên Mỹ, do nghiên cứu sử thế giới sâu sắc, một hôm bàng hoàng nhận ra như một tiến sỹ nọ “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn..”, mà không hiểu rằng đó là do chính sách xâm lược mà ra.

Rồi bà đặt câu hỏi “Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?”.

Có người đùa vui, người “giỏi” Sử ta như thế, sau khi tu nghiệp bên Mỹ, sẽ về Việt Nam, đến khoa Sử của Đại học Hà nội để giảng dạy sử cho “chính thống”.

Sự ngấm dần về “văn hóa và tư tưởng” của lối sống hội nhập đã sinh ra những con người phi dân tộc tính, đứng giữa nga ba đường, không biết mình thuộc về quốc gia nào. Không phải tây, chẳng phải Việt Nam, không phải quê nhà mà cũng chẳng phải tỉnh ta.

Quay đi thấy Tây hay Mỹ, cần phải coi họ là nước mẹ, vì mình ăn học và đang lĩnh lương nơi đây.

Nhìn sang nước Trung Hoa vĩ đại đang trỗi dậy, cảm thấy mình quá bé nhỏ và tự nhiên thấy mình như con đẻ của người ta. Sự yếu đuối cũng là điều dễ hiểu.

Ngắm quê hương chỉ thấy toàn một lũ thanh niên hay đám bloggers điên cuồng theo “chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc” như lời tiến sỹ nọ.

Thật ra hiểu như trên không có gì lạ, cũng không ít người đồng cảm. Đó cũng là một sản phẩm tất yếu của tiến trình các nước hòa nhập, tốt hay xấu, tùy theo từng góc độ.

Nhưng với một dân tộc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, hàng triệu người ngã xuống trong mấy cuộc chiến gần đây, trong bối cảnh sắp đến 35 năm kỷ niệm ngày hết tiếng bom rơi, trong lòng kẻ ở người đi còn bao nỗi ngổn ngang, thì thông điệp của bài báo định gửi gì cho ngày hòa giải dân tộc.

Kết thúc bài viết, xin trích một phản hồi của một bạn đọc trên BBC “Tinh thần vong bản mới đáng lo sợ. Một công dân không có tinh thần dân tộc thì đó là một công dân tồi”.

Có lẽ người công dân ấy không thuộc về quốc gia nào và không biết yêu ai, dù hiểu biết đầy người. Có tri thức tầm vóc mà vẫn mù quáng về dân tộc tính mới thật sự tai hại cho nhân loại.

Hiệu Minh.


Nỗi đau toàn cầu hóa « Hiệu Minh Blog

Tuesday, April 13, 2010

NguoiBuonGio - Đại Vệ Chí Dị

Năm xưa nước Bạch đang giữ ngôi bá trong thiên hạ đại loạn, nhân dân nổi lên khắp nơi Nước Bạch không giữ được ngôi bá, nhưng nhờ thế mà dân chúng không phải nai lưng đóng thuế để sắm binh khí, binh sĩ được cho về quê quán làm ăn.

Trong lúc rối ren ấy, nước Tề vốn ở xa không bị ảnh hưởng, lại vốn có dã tâm nham hiểm bèn lợi dụng cơ hội mà xưng bá với thiên hạ.

Vệ là nước lân cân với Tề, nhanh nhẩu mang bản đồ sang Tề dâng đất để xin được nhận là chư hầu.

Hai nước mở cửa biên giới thông thương làm ăn đời sống nhân dân khá hơn, điều ấy thật đáng mừng. Vua tôi nhà Vệ thấy Tề dễ dãi bỏ qua chuyện chính chiến năm xưa lấy làm mừng lắm, tự nghĩ mình đã khôn ngoan chủ động cầu hòa giữ sự bình yên cho nước Vệ công ấy sử sách phải ghi đến muôn đời. Bèn tuyên truyền sâu rộng trong nước công lao ấy.

Bọn tuyên huấn đi rao giảng từ nhà trường đến chốn chợ búa , nào là triều đình nhanh nhạy bắt kịp thời thế, nào là đưa ra đường lối ngoại giao đúng đắn, nào là chọn đối tác chiến lược sáng suốt….

Dân Vệ một lòng tin tưởng vào kế sách triều đình, chí thú lo làm ăn.

Tề Bá Vương họp quần thần nghị rằng.

- Nước Vệ dạo này thế nào.?

Quần thần thưa.

- Muôn tâu, nước Vệ từ khi quan hệ với chúng ta đời sống về vật chất có khá hơn, chúng còn gì mà bận tâm. Giờ nước Vệ từ dân đến vua đều coi chúng ta là bạn hữu chí thiết.

Tề Bá Vương gật gù.

- Con chim béo nuôi mãi trong lồng, giờ có thả cũng không dám đi xa. Lúc này đoạt nốt biển đảo của chúng được chưa ?

Quần thần tâu.

- Nước Vệ nói chung tinh thần giờ không còn lo chuyện chủ quyền nữa, nhưng một số ít các phần tử phản động trong nước vẫn còn la ó đề cao cảnh giác với Tề ta. Lúc này nên thận trọng từng bước một. Rừng xanh còn, lo gì thiếu củi đốt, ta cứ nắm giữ được triều đình nhà Vệ thì trước sau biển đảo ấy cũng về tay ta.

Tề Bá Vương hỏi.
- Tinh thần nước Vệ còn chỗ nào chúng ta chưa triệt xong ?

Quần thần thưa

- Muôn tâu, về văn hóa, lối sống chúng ta đã u mê hóa gần hết. Chỉ vướng mắc đôi chút về tư tưởng của tiên vương nước Vệ thôi ạ. Tiên vương nước Vệ mất đi còn để lại nhiều câu bất hủ về chủ quyền, dân tôc. Nhiều kẻ sĩ trong Vệ thường mang những câu đó ra để cỗ vũ tinh thần cho dân chúng, đó là điều bất lợi cho ta.


Tề Bá Vương gọi vua tôi nước Vệ sang chầu. Tề Bá Vương hỏi Vệ Vương.

- Xưa hồi lúc nước Bạch xưng Bá, Vệ và Tề ngang nhau. Giờ Vệ cũng xưng vương liệu Tề ta biết cư xử thế nào.?

Vệ Vương mặt xám ngoét , chuyển sang chỗ bên hữu phía dưới ngồi miệng lí nhí

- Xin cho là Vệ Công đươc không ?

Tề Bá Vương gật đầu, lại hỏi tiếp.

- Đường lối của Tề Nhị Đế thì đã truyền cho Vệ, nước Vệ áp dụng đến đâu rồi ?

Vệ công xá dài nói.

- Dạ thưa Đại Vương, nước Vệ được Tề dạy bảo đường lối, kế sách phát triển của Nhị Đế, mang về áp dụng, đời sống trong nước có khá hơn nhiều rồi ạ.

Tề Bá Vương trầm ngâm một lát rồi nói.

- Đường lối đã có hiệu quả, chủ nghĩa là của chung, vậy tư tưởng của Tề Tiên Đế có gì khác với Vệ tiên vương không ? . Nghe nói Vệ đang có phong trào phát triển giảng dạy tư tưởng Vệ tiên vương phải không ?

Vệ Công chưa rõ phải trả lời sao, cứ cùi gằm mặt xoắn hai bàn tay vào nhau mà nhìn mãi. Tề Bá Vương thấy vậy bèn lấy trên bàn tập sách, xuống tận nơi đưa cho Vệ Công, thở dài nói.

- Xưa Vệ Tiên Vương theo hầu Tề Tiên Đế chinh chiến ngàn dặm, những tấm lòng của Vệ Tiên Vương với Tề còn tự tay Vệ tiêng vương ghi lại cả đây. Nay nước Tề có tư tưởng của Tiên Đế rồi, nước Vệ cũng có riêng của mình nữa. Há có thật lòng không ? Nếu các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn thâm giao của Tề và Vệ. Nước Vệ mà xa cách với Tề, liệu còn giữ được thái miếu mà tôn thờ, giữ được thái ấp mà hưởng lộc không. ?


Vệ công đứng dậy hướng lên điện Tề xá dài nói

- Xin cho nước Vệ còn chút gì để nhớ Tiên Vương


Tề Bá Vương phán.

- Nước Tề không hẹp hòi gì mà chấp nệ chuyện nghĩa cử ấy, xưa Tiên Vương nước Vệ hồi ở Tề ta, là người trung thành, thuần hậu, biết giữ phép tắc. Đó chả phải là điều đáng học ư ?


Vệ Công về nước, họp quần thần nghị sự. Bỏ chữ học tập tư tưởng thay bằng chữ đạo đức. Thấm thoắt đã hơn ba năm, phòng trào phát triển sâu rộng khắp nước, thành quả chưa biết đến đâu. Nhưng thầy giáo thì hiếp học trò, quan đốc học mua dâm vị thành niên, học trò giết nhau như ngóe. Ngoài quan quân triều đình ra, dân chúng không ai bàn đến chính sự, chủ quyền. Chuyện ngoài chợ, quán xá, công sở nước Vệ là kiếm tiền và hưởng thụ. Cái này không phải do Vệ tiên vương không có đạo đức, mà bởi những chính những kẻ đi dạy làm những điều không gương mẫu. Bởi thành nông nỗi như vầy.


Tề Bá Vương lại họp quần thần hỏi.

- Nước Vệ giờ sao rồi ?

Quần thần tâu.

- Nước Vệ không có gốc, không có đạo. Nước ấy tuy nhìn bên ngoài thì yên ổn. Nhưng không có nền tảng, gốc gác, như một cái cây bên ngoài lá xanh tươi nhưng bên trong thân rễ không còn sự sống. Bao nhiêu đã trổ ra đầu cành lá hết cả rồi.


Tề Bá Vương nhếch mép cười nhạt hỏi.

- Giờ đã đến lúc lấy biển đảo chưa ?


Quần thần dạ vang điện.

- Dạ , giờ nước Vệ còn ai quan tâm trông giữ đâu mà không lấy.


Tề Bá Vương đứng dậy , tuốt gươm lệnh, đập xuống bàn quát to như sấm.

- Lệnh cho chiến thuyền lên đường, gặp bất cứ cái gì của Vệ lảng vảng trên biển đều tiêu diệt.


Người thân thích của ngư dân nước Vệ ôm xác chồng khóc thảm thiết. Cảnh ấy lặp đi ngày này sang ngày khác. Ngư dân Vệ bị quân Tề giết và bắt bớ đến nỗi thông cáo của triều đình về việc ấy bình thường như chết do tai nạn giao thông hay vi phạm luật giao thông mà bị bắt. Dân chúng nghe mãi cũng thấy dửng dưng, quen tai như việc họ ăn, uống hàng ngày.

NguoiBuonGio - Đại Vệ Chí Dị