Sunday, March 21, 2010

Phật hoàng Trần Nhân Tông và bài học lợi ích dân tộc

Đối với Trần Nhân Tông và nước Đại Việt, con đường sinh tồn chính là phát triển tiến về phía nam càng có thêm hậu thuẫn mạnh, trước áp lực thường xuyên của thế lực phương Bắc. Hai đối sách còn lại của Trần Nhân Tông theo hai chiều Nam-Bắc tỏ ra phù hợp, và đã được các triều đại kế tiếp noi theo, tạo nên một quốc gia hùng mạnh, vững vàng, hòa hiếu, đất đai rộng mở suốt tiến trình lịch sử 700 năm sau đó.

Phật hoàng Trần Nhân Tông: "Dân đồng lòng vận nước mới thịnh"

Mềm dẻo nhưng cương quyết

Thời Trần, nếu Trần Thánh Tông là vị vua nổi tiếng có nhiều chiến tích anh hùng, góp mặt trong cả 3 lần kháng chiến chống Mông - Nguyên ở nửa sau thế kỷ XIII[1], thì Trần Nhân Tông lại là vua có thái độ ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết, biết hoạch định những chiến lược đúng đắn làm nền tảng vững chắc cho chính sách đối ngoại của nước Đại Việt.

Trong 30 năm gắn bó với chính sự - lên ngôi ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để làm Thái Thượng hoàng vào tháng 3 năm Quý Tỵ (1293) và đi tu, mất ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) - Trần Nhân Tông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong chính sách đối ngoại của nhà Trần, thể hiện trên ba nội dung lớn:

- Cương quyết tập trung toàn lực đối phó với nhà Nguyên ở phía bắc để bảo vệ đến cùng nền độc lập dân tộc;

- Tăng cường hoạt động ở Ai Lao để ổn định bền vững ranh giới, bờ cõi phía tây;

- Nỗ lực kết giao với Chămpa nhằm sáp nhập và mở rộng lãnh thổ về phía nam để phát triển lâu dài.

Ngay khi vừa mới làm vua cuối năm 1278, Trần Nhân Tông đã bị sứ giả triều Nguyên hăm dọa việc "tự ý" lên ngôi mà không xin mệnh lệnh của "Thiên triều", và buộc nhà vua phải sang chầu. Vì đại cuộc quốc gia, tránh sự gây hấn với quân Nguyên nước lớn thế mạnh, nên vua cử Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế đi sứ để làm dịu bớt sự căng thẳng giữa hai nước[2].

Sau khi diệt xong nhà Tống, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt ráo riết chuẩn bị đánh Đại Việt. Trước nguy cơ đó, Trần Nhân Tông đã cử chú họ là Trần Di Ái và Lê Mục, Lê Tuân đi sứ sang Nguyên.

Tượng thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Ảnh: Website Côn Sơn Kiếp bạc
Vua Nguyên phong Trần Di Ái tước Lão hầu, cho làm "An Nam quốc vương", tự ý đặt Đại Việt thành "An Nam Tuyên uý ty", sai Bột Nhân Kha Nhi, Sài Xuân và Hốt Kha Nhi đem 1.000 quân hộ tống Trần Di Ái trở về Đại Việt.

Tháng 4 Nhâm Ngọ (1282), trước âm mưu và thái độ ngang ngược của giặc, vua Trần Nhân Tông không chịu nhân nhượng, cho quân đón đánh Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi ở biên giới, khiến chúng phải trốn chạy hoặc trở về nước, Trần Di Ái bị bắt đem về trị tội.

Tiếp đến, được tin 50 vạn quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy lấy cớ mượn đường Đại Việt đánh Chămpa, vua Trần Nhân Tông vội họp triều đình bàn kế chống giặc ở bến Bình Than (Chí Linh, Hải Dương) vào tháng 10 Nhâm Ngọ (1282) , và cho quân bố phòng các nơi hiểm yếu.

Trong thời gian quân Nguyên xâm lược Chămpa, tháng 7 Quý Mùi (1283), vua Trần Nhân Tông vẫn cử sứ bộ gồm Hoàng Ư Lệnh và Nguyễn Chương sang giao hảo, với mục đích thăm dò tình hình giặc. Nhờ vậy, vua Trần biết được tin tức 50 vạn quân Nguyên sắp sửa sang xâm lược nước ta và chuẩn bị đối phó. Tháng 10 năm Quý Mùi (1283), Trần Nhân Tông tổ chức tập trận thuỷ bộ, phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn quân, cử các tướng tài chỉ huy các đơn vị quân đội.

Tháng 3 năm Giáp Thân (1284), quân Nguyên từ cảng Thị Nại (Qui Nhơn) kéo ra đóng chiếm vùng Ô - Lý (Bắc Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình hiện nay), âm mưu phối hợp cánh quân từ phía bắc xuống đánh chiếm Đại Việt. Cùng lúc đó, sứ Nguyên là Đào Bỉnh Trực đến Thăng Long mang thư dụ hàng của Hốt Tất Liệt và đòi chu cấp lương thực cho lính Nguyên đang đóng ở Chămpa. Vua Trần Nhân Tông cương quyết không chịu, nên sứ giặc phải ra về.

Đáp trả thái độ của nhà Trần, con trai của Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan được phong làm Trấn Nam vương, đem các tướng giỏi như A Thích, A Lý Hải Nha, Lý Hằng thống lĩnh 50 vạn quân kéo sang phối hợp với Toa Đô ở phía nam tấn công Đại Việt. Nhằm tránh cuộc chiến tranh khốc liệt sắp sửa nổ ra, tháng 5 (nhuận) năm Giáp Thân (1284), vua Trần Nhân Tông cử Trần Phủ sang xin hoãn binh, nhưng Hốt Tất Liệt vẫn điều động lực lượng.

Không nản lòng, vua Trần lại cử sứ thần Nguyễn Đạo Học đi sứ. Thoát Hoan sai người cùng Nguyễn Đạo Học về Đại Việt đưa thư của A Lý Hải Nha trách hỏi vua Trần, bắt vua phải chở lương thực sang Chămpa cho quân Nguyên và thân hành đi đón Thoát Hoan, nhưng vua Trần không chấp nhận.

Trước quyết tâm của vua Trần Nhân Tông, tháng chạp năm Giáp Thân (đầu năm 1285) quân Nguyên tấn công Đại Việt. Cuộc chiến tranh ác liệt diễn ra trong 6 tháng trời, thậm chí có lúc nhà Trần phải tạm rời bỏ kinh thành Thăng Long, song cuối cùng vẫn kết thúc bằng thắng lợi của nhân dân ta.

Chiến tranh kết thúc, xóa bỏ hận thù

Kháng chiến thắng lợi, nhưng sau cuộc chiến tranh, vua Trần Nhân Tông vẫn có những cố gắng nhằm làm dịu bớt sự thù hận vì bị thua trận của nhà Nguyên.

Kết quả vào tháng 10 năm Ất Dậu (1285), Hốt Tất Liệt cử Hợp Tán Nhi Hải Kha đến Thăng Long thăm dò tình hình và bàn tính việc trả tù binh. Tháng Giêng năm Bính Tuất (1286), vua Trần Nhân Tông cho thả tù binh Nguyên về nước.

Dù đã hai lần bại trận (1258, 1285), quân Nguyên vẫn chưa nguôi mộng xâm lăng Đại Việt. Tháng 3 Bính Tuất (1286), nhà Nguyên cử A Lỗ Xích, Ô Mã Nhi cùng đại tướng Trương Văn Hổ điều 50 vạn quân, 300 chiến thuyền âm mưu đưa Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam quốc vương. Sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn của Đại Việt đến kinh đô nhà Nguyên vào tháng 5 năm Bính Tuất (1286) cũng bị bắt giữ. Ngày 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (11-10-1287), nhà Nguyên tiến công xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Nhưng cũng như hai lần trước, nhân dân Đại Việt tuy trải qua nhiều gian khổ vẫn bảo vệ thành công nền độc lập dân tộc. Ngày 27 tháng 3 năm Mậu Tý (28-4-1288), vua Trần Nhân Tông và triều đình đại thắng quay trở về kinh đô Thăng Long, ban lệnh đại xá thiên hạ.

Ba lần đại thắng quân Mông-Nguyên, vua tôi nhà Trần vẫn không hề tự mãn, ngạo mạn, vẫn tìm mọi phương cách để chấm dứt dã tâm xâm lược của giặc, mở đầu bằng chuyến đi sứ của Đỗ Thiên Hứ sang nước Nguyên vào tháng 10 năm Mậu Tý (1288). Trong khi đó, dù thua trận liên tục, nhưng nhà Nguyên không từ bỏ thói kẻ cả, vẫn ngông nghênh đòi Đại Việt phải thần phục.

Tháng 11 năm Mậu Tý (1288), Hốt Tất Liệt cử sứ bộ Lưu Đình Trực sang Đại Việt, đưa theo 24 người trong đó có các sứ bộ bị bắt giữ từ trước, đòi thả hết tù binh và đòi vua Trần Nhân Tông sang chầu vua Nguyên. Trần Nhân Tông luôn nhún nhường nước "lớn", nhưng không hề hèn nhát trước yêu cầu ngang ngược của giặc. Vào tháng 2 năm Kỷ Sửu (1289), vua Trần Nhân Tông sai Nội thư gia là Hoàng Tá Thốn đưa Ô Mã Nhi và tuỳ tướng nhà Nguyên về nước, song ban đêm dùng kế dùi thuyền cho chúng chết đuối[3]. Đến khi Thượng hoàng Trần Thánh Tông mất[4], vua Trần Nhân Tông vẫn cử sứ bộ Ngô Đình Giới sang cáo phó với nhà Nguyên vào tháng 8 năm Canh Dần (1290).

Vào tháng 2 năm Tân Mão (1291), Hốt Tất Liệt sai Lễ bộ Thượng thư Trương Lập Đạo sang dụ vua Trần Nhân Tông đi chầu, vua lấy cớ có tang không tiếp, rồi cử sứ bộ Nguyễn Đại Phạp cùng sứ Nguyên sang đáp lễ. Tháng 9 năm Quý tỵ (1293), sứ Nguyên là Binh bộ Thượng thư Lương Tăng lại sang đòi vua Trần đi chầu. Lúc nầy Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con làm Thái Thượng hoàng, lấy cớ đang có bệnh để từ chối yêu cầu của sứ Nguyên, sai Đào Tử Kỳ đem sản vật địa phương đi cùng sứ Nguyên sang biếu. Nhà Nguyên giận giữ giam Đào Tử Kỳ, đến đầu năm sau mới cho về. Tháng 2 năm Ất Mùi (1295), sứ Nguyên là Lý Khản và Tiêu Thái Đăng lại sang, vua Trần cử Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo đi cùng sứ Nguyên về nước trả lễ...

Qua các cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Nguyên, Trần Nhân Tông nổi bật vai trò một vị Nguyên thủ, một chính khách ngoại giao tài ba đầy quả cảm và giàu chất nghệ sĩ, có lập trường cứng rắn trong việc bảo vệ đến cùng độc lập tự do của dân tộc, nhưng luôn mềm dẻo và vô cùng nhạy bén, linh hoạt trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, hạn chế tối đa những mối nguy hại cho đất nước. Chính sự cương quyết nhưng mềm dẻo của Trần Nhân Tông đã góp phần đánh bại âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Nguyên, và quan trọng hơn là dập tắt luôn ý đồ phục hận của nhà Nguyên kể từ sau cái chết của Hốt Tất Liệt[5].

Bài học lợi ích quốc gia là trên hết

Ảnh thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Ảnh Giác Ngộ

Trong 30 năm nắm giữ nền chính sự Đại Việt, Trần Nhân Tông luôn nhất quán trong chủ trương giao hảo với Chămpa. Tháng Giêng năm Kỷ Mão (1279), sứ Chămpa là Chế Năng và Tra Diệp sang cống và xin ở lại làm nội thần Đại Việt, vua Trần Nhân Tông không chấp thuận vì sợ gây tổn thương quan hệ giữa hai nước. Nhờ sự tôn trọng của vua Trần Nhân Tông, Chămpa cảm phục và thường xuyên giữ lệ cống; như tháng hai năm Nhâm Ngọ (1282), sứ bộ Chămpa gồm 100 người do Bố Bà Ma cầm đầu sang cống voi trắng, rồi những lần khác vào tháng 9 năm Quý Tỵ (1293), tháng 2 năm Tân Sửu (1301)...

Đặc biệt, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai, tháng 6 Ất Dậu (1285) vua Trần Nhân Tông còn cho đưa các quan lại Chămpa theo quân Toa Đô bị Đại Việt bắt là Ba Lậu, Kê Na Liên tất cả 30 người về lại Chămpa.

Bên cạnh chủ trương hoà hiếu, Trần Nhân Tông còn đặt nền tảng cho sự hoà hợp giữa hai dân tộc. Từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi kinh lý các miền trong nước và sang thăm Chămpa, đồng thời hứa gả công chúa để kết thân. Kết quả là tháng 2 năm Ất Tỵ (1305), vua Chămpa sai Chế Bồ Đài và hơn 100 tuỳ tùng sang dâng sính lễ quý để cầu hôn; đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), Công chúa Huyền Trân nhà Trần được gả cho vua Chế Mân, với sính lễ là 2 châu Ô, Lý.

Hoà hiếu và kết thân với Chămpa được xem là một chính sách sáng suốt, đúng đắn mà Trần Nhân Tông đã vạch ra nhằm đảm bảo sự tồn vong và phát triển mở rộng về phía nam của quốc gia Đại Việt từ đó trở về sau.

Ngược lại với Chămpa, biên giới chung giữa Đại Việt và Ai Lao thường xuyên xẩy ra sự xung đột quân sự, mà suốt đời Trần Nhân Tông dường như liên tục xảy ra những cuộc đấu tranh.

Tháng 2 năm Canh Dần (1290), vua Trần Nhân Tông đem quân đi đánh Ai Lao, bởi vua cho rằng "khi giặc Nguyên lui rồi, thì ba cõi (Ai Lao, Chămpa, Chân Lạp) tất cho là quân và ngựa của ta chết hại, thế không thể chấn khởi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi đánh để thị uy"[6]. Thậm chí khi đã trở thành Thái Thượng hoàng, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), Trần Nhân Tông vẫn còn thân chinh đi Ai Lao.

Tiếp nối những lần động binh của Trần Nhân Tông, các tướng nhà Trần (nhiều nhất là Phạm Ngũ Lão) còn nhiều lần tiến hành đấu tranh với Ai Lao, như các trận tháng 2 Đinh Dậu (1297), tháng 10 Mậu Tuất (1298), tháng 3 Tân Sửu (1301). Các hoạt động trên đã góp phần giúp biên giới phía tây của Đại Việt ngày càng ổn định.

Trong 15 năm làm vua, 15 năm dưới danh nghĩa Thái Thượng hoàng, hoạt động nhằm ổn định biên giới ở phía tây với Ai Lao hơi thiên về quân sự có thể xem là một sự đáng tiếc trong lựa chọn phương cách giải quyết của Trần Nhân Tông; song đó là hạn chế khách quan của thời đại, của điều kiện địa lý và lịch sử khu vực. Bởi lẽ, đối với Trần Nhân Tông và nước Đại Việt, con đường sinh tồn chính là phát triển càng xa về phía nam càng có thêm hậu thuẫn mạnh, trước áp lực thường xuyên của thế lực phương Bắc. Hai đối sách còn lại của Trần Nhân Tông theo hai chiều nam-bắc tỏ ra phù hợp, và đã được các triều đại kế tiếp noi theo, tạo nên một quốc gia hùng mạnh, vững vàng với phương Bắc, hòa hiếu và rộng mở về phía nam suốt tiến trình lịch sử 700 năm sau đó.

Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Quang Trung Tiến
Đại học Khoa học Huế
77 Nguyễn Huệ, Thành phố Huế


[1] Hai lần sau Trần Thánh Tông tham gia với tư cách Thái Thượng hoàng đời vua Trần Nhân Tông.

[2] Các sứ thần nầy bị nhà Nguyên giữ lại không cho về.

[3] Viện Sử Học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (Từ khởi thuỷ đến 1858), Giáo Dục, Hà Nội, 2001, tr.156.

[4] Trần Thánh Tông mất ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290)

[5] Hốt Tất Liệt mất vào tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1294).

[6] Viện Sử Học, đã dẫn, tr.157.


Phật hoàng Trần Nhân Tông và bài học lợi ích dân tộc

Ức Trai: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân...

"Nguyễn Trãi hết sức kính trọng khả năng sáng tạo của dân. Ông thường so sánh khả năng ấy với sức mạnh chở thuyền, lật thuyền của nước. Sáu trăm năm sau, sự thao thức của con người hành động- Nguyễn Trãi cũng là sự thao thức của tất cả những ai yêu tha thiết nhân nghĩa trên trái đất này".

Phật hoàng Trần Nhân Tông: "Dân đồng lòng vận nước mới thịnh"
Phật hoàng Trần Nhân Tông và bài học lợi ích dân tộc

Thoại Ngọc Hầu: tấn trò đời nghiệt ngã

19 tuổi, tôi vào học khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội với bao háo hức và mong mỏi những điều mới lạ từ các thầy cô nơi giảng đường. Thế mà, trong một giờ học môn Khảo cổ học, thầy Trần Quốc Vượng (người nổi tiếng dạy khảo cổ thì vừa vừa nhưng nói về văn hóa, chuyện đời thì rất nhiều) đã "ném" thẳng vào tôi (và các sinh viên khác) một lời khẳng định làm xây xẩm mặt mày: "Các ông, các bà có biết vì sao Nguyễn Trãi chết thê, chết thảm vậy không? Cái "tội" của Ức Trai là ở chỗ đã về hưu rồi còn "chõ mõm" vào việc triều chính"!

Sự bàng hoàng từ câu nói ấy theo tôi đi mãi đến bây giờ. Và, cũng chính từ cái lẽ hoang mang, bất ổn vì không thể hiểu đủ, hiểu đúng những trái ngang của cuộc đời mà tôi đã đọc, đã thao thức nhiều lần về Nguyễn Trãi.

"Nguyễn Trãi hết sức kính trọng khả năng sáng tạo của dân. Ông thường so sánh khả năng ấy với sức mạnh chở thuyền, lật thuyền của nước. Sáu trăm năm sau, sự thao thức của con người hành động và nhà thơ Nguyễn Trãi cũng là sự thao thức của tất cả những ai yêu tha thiết nhân nghĩa trên trái đất này". Tổng Thư ký UNESCO M. Moebal

Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Trãi là con người độc đáo, khác biệt, thiên tài, bi thảm có một không hai. Là hậu duệ của công thần Nguyễn Bặc - người cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân; là cháu của Trần Nguyên Đán - cháu 5 đời của vua Trần Thái Tông; con của một vị tiến sĩ (Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh) và bản thân cũng đỗ tiến sĩ (Thái học sinh) năm 20 tuổi; Nguyễn Trãi (1380-1442) là bậc hiền tài có dòng dõi - nội lực vào loại trâm anh thế phiệt nhất nước Nam từ cổ chí kim.

Chính trị vì dân, thương dân

Theo PGS. Võ Xuân Đàn thì trong các văn bút của Nguyễn Trãi, chữ dân được nói tới 155 lần - chưa kể các từ đồng nghĩa tương tự như bách tính, sinh linh, xích tử...

Sao Khuê nước Việt Nguyễn Trãi
Ảnh: Wikipedia

Trong diễn văn đọc nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, Tổng Thư ký UNESCO M. Moebal cũng đã nhấn mạnh: "Nguyễn Trãi hết sức kính trọng khả năng sáng tạo của dân. Ông thường so sánh khả năng ấy với sức mạnh chở thuyền, lật thuyền của nước. Sáu trăm năm sau, sự thao thức của con người hành động và nhà thơ Nguyễn Trãi cũng là sự thao thức của tất cả những ai yêu tha thiết nhân nghĩa trên trái đất này".

Moebal nói chúng ta hãy (mãi mãi) còn thao thức với những gì Nguyễn Trãi đã trăn trở bởi ông là bậc công thần, bậc đại trí giả, bậc thánh nhân suốt đời tâm niệm "ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày" và cũng là con người hành động kiên quyết để "trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược".

Ở cái thời buổi mà ai cũng nhắc đến công ơn của lãnh đạo (ơn vua, lộc nước), riêng Ức Trai nghĩ đến ơn dân. Tư tưởng vĩ đại, cách mạng đó tỏa sáng cách đây 630 năm và, mãi còn lung linh như vầng sao Khuê rạng rỡ đến muôn đời.

Những câu chữ của trái tim Ức Trai được viết ra bằng máu và nước mắt tưởng chừng như mới viết hôm qua: Thui dân đen trên lò bạo ngược. Hãm con đỏ dưới hố tai ương. Dối trời lừa người, kế gian đủ muôn nghìn khóe...

Mọi thói đời lộng hành, ác bá đã và đang xảy ra khắp cõi đời này đều xuất phát từ chỗ làm ngược lại những điều tâm huyết của Ức Trai. Nguyễn Trãi yêu dân đến mức ông không sợ mình phải "đem ngọc bán rao", miễn là "trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu".

Hai chữ nhân nghĩa trước, cùng và sau thời Nguyễn Trãi là điều không ít người đã bàn. Mạnh Tử cho rằng "lòng thương xót là đầu mối của nhân" - lòng nhân này nặng về phía cái tình. Chu Tử thì nói nhân là cái lý của lòng yêu, mà lòng yêu, theo Chu Tử là thiên lý, tức nặng về trời. Hàn Dũ nói nhân là bác ái - sống trên đời có nghĩa là nhân. Khổng Tử, "cha đẻ" của chữ nhân thì cho rằng nhân là giữ tam cương, hiểu ngũ thường, biết hiếu đễ...

Nguyễn Trãi quan niệm và thực hiện cái lẽ nhân - dân hoàn toàn khác. Nhân nghĩa của Ức Trai chỉ có một lẽ duy nhất mà thôi, lẽ đó xuyên suốt, rộng khắp trong mọi lúc, mọi nơi với mục đích duy nhất: vì dân. "Nhân nghĩa thì giữ cho thế nước được yên" (Nguyễn Trãi, toàn tập, Nxb KHXH, in lần thứ hai, Hà Nội, 1976, tr.290);

"... thế nào cho thuận lòng dân, ngõ hầu có thể không đến nỗi lấy điều muốn của một người mà ép nghìn muôn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời" (sách đã dẫn, tr. 195);

"Hòa thuận tôn thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân. Chớ thưởng bậy vì tư ân. Chớ phạt bừa vì tư nộ. Đừng thích của tiền mà buông tuồng, xa xỉ; đừng gần thanh sắc mà bừa bãi, hoang dâm. Cho đến những việc dùng nhân tài, nghe can gián, ra một chính sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm, đều giữ chính trung làm theo thường điển ngõ hầu trên có thể đáp thiên tâm, dưới có thể thỏa nhân vọng, thì quốc gia mới được yên vững lâu dài" (sách đã dẫn, tr. 203)...

Đọc những dòng này lúc 3h sáng, tôi chợt bừng tỉnh ra rằng dường như thiên tài bao giờ cũng có thiên bẩm là tiên tri. Trần Nhân Tông có rất nhiều tư tưởng tiên tri về lẽ sống, chuyện đời.

Hồ Chí Minh tiên tri đúng đến cả tháng ngày của vận nước hưng thành như bàn về thành công của Cách mạng tháng Tám, bàn về việc xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh... Điển hình là trong Di chúc, Người viết về đoàn kết thì nhắc đảng trước, dân sau; nói về quyền lợi, hạnh phúc thì nhấn mạnh dân trước, đảng sau.

Ảnh: Website Côn Sơn - Kiếp Bạc

Nguyễn Trãi gần như đang nói về "điều muốn của một người mà ép nghìn muôn người". Ông đang nhấn mạnh rằng chớ thưởng bậy vì tư ân... Ông cũng đang khẳng định rằng "... đối dân thì hết hòa, đổi bỏ thói tham ô, sửa trị tệ lười biếng. Bè đảng riêng tây phải dứt, cố phạm phải chừa..." (sách đã dẫn, tr. 199).

Những day dứt và đau đớn của Ức Trai, cái lo son sắt một bề vì dân, vì nước của ông, càng đọc càng thấy thổn thức, xót xa...

Trong cuộc đời mình, Nguyễn Trãi đã đảm trách 17 chức vụ khác nhau. Xét theo nguyên tắc "giao cho nhiều việc để xem tài" như người xưa vẫn nói thì Nguyễn Trãi là bậc kỳ tài. Ở cương vị nào ông cũng sáng, ở trọng trách nào ông cũng minh. Cái tài đó sáng quá, mẫn tiệp quá nên có kẻ đã đặt bẫy để "tắt" cuộc đời ông trong nỗi bi thảm đời đời. Ông có lẽ đã chết vì nói những gì người cầm quyền đương thời không muốn nghe, không muốn biết. Đó là chuyện "dài kỳ" của lịch sử.

Thế nhưng, Nguyễn Trãi muôn đời là biểu tượng bất tử của bốn chữ Nhân Nghĩa An Dân. Tìm khắp cổ kim, đông tây; khó thấy vị danh kiệt nào (không kể vua) lo cho dân cho nước đủ, đúng và chân tình như Nguyễn Trãi! Bi kịch của ông là bi kịch của bậc hiền tài bởi tấm lòng của ông tỏa rạng ngời ngời. "Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền" - dựng nước và làm vẻ vang cho đất nước, từ xưa đến nay, chưa có ai làm được như ông.


Ức Trai: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân...

Bauxite Việt Nam: Kiến nghị xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng

Cù Huy Hà Vũ

Sau bài viết về Đàn Âm hồn đã được đăng tải trên nhiều trang mạng từ 2007 và gần đây đăng lại trên BVN, TS luật Cù Huy Hà Vũ vừa gửi Kiến nghị lên các cơ quan Nhà nước về việc xây dựng một Đài liệt sĩ tưởng niệm các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa. Bản Kiến nghị ra đời trong bối cảnh Trung Quốc đang hung hăng bộc lộ tư tưởng hiếu chiến muốn tranh thủ thời cơ nuốt nhanh tất cả biển đảo tại hai vùng này của nước ta (xem Dương Danh Dy: http://boxitvn.wordpress.com/2010/03/04/phan-ung-cua-mot-so-mang-trung-quoc-truoc-viec-quoc-te-hoa-bien-dong/#more-1961), là một tiếng nói thức thời, khơi dậy một phong trào sâu rộng trong quần chúng nhằm nâng cao cảnh giác sắc bén hơn với kẻ thù truyền kiếp.

Nhưng điều còn rất quan trọng là trong bản Kiến nghị này, tác giả đã bày tỏ một quan điểm mới: nêu tấm gương hòa hợp chân thành đối với người Việt khắp bốn phương trên thế giới, không phải theo lối “chiêu hồi” như lâu nay ai cũng mặc cảm, mà hòa hợp trên cơ sở người cùng một bọc, “máu chảy ruột mềm”. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hy sinh ở Hoàng Sa năm 1974 cũng phải được khắc ghi bia đá trong Đài liệt sĩ như các chiến sĩ Cộng hòa XHCN Việt Nam bị đạn pháo Trung Quốc bắn gục tại Trường Sa năm 1988.

BVN xin giới thiệu bản Kiến nghị của Cù Huy Hà Vũ với bạn đọc như một dấu mốc khởi đầu cho quyết tâm “bước qua lời nguyền” mà bao nhiêu năm người ta chỉ nói đầu miệng chứ không hề muốn thực hiện.



Bauxite Việt Nam



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————————–
Hà Nội ngày 04/3/2010

KIẾN NGHỊ

XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ HY SINH VÌ SỰ NGHIỆP

BẢO VỆ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM




Kính gửi: Quốc Hội
Chủ tịch Nước
Thủ tướng Chính phủ



Tôi là Cù Huy Hà Vũ, Tiến sĩ Luật, công dân Việt Nam, hộ khẩu thường trú tại 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội, xin gửi tới Quý Vị Lãnh đạo lời chào kính trọng và kiến nghị với Quý Vị Lãnh đạo về việc xây dựng Đài tưởng niệm Liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam như trình bày sau đây.

Hiến pháp Việt Nam khẳng định: Tổ Quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm (Điều 13), bảo vệ Tổ Quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân (Điều 77).

Hiến pháp Việt Nam khẳng định: Mọi công dân đều bình đẳng trước Pháp luật (Điều 52)

Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng khẳng định: Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc, được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”; Nhà nước và nhân dân xây dựng, quản lý, chăm sóc, giữ gìn các công trình ghi công liệt sĩ, bao gồm phần mộ, nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ (Điều 11).

Nhà nước Việt Nam khẳng định: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam. Vì vậy, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân Việt Nam.

Đã có những Công dân Việt Nam anh dũng hy sinh trong chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.
  • Trong các ngày từ 17 đến 19 tháng 01 năm 1974, 58 công dân Việt Nam phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Kết thúc trận chiến, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã bị nước ngoài xâm chiếm.
  • Ngày 14 tháng 3 năm 1988, 64 công dân Việt Nam phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ quần đảo Trường Sa. Kết thúc trận chiến, đảo Gạc – Ma của quần đảo Trường Sa đã bị nước ngoài xâm chiếm.


122 công dân Việt Nam ấy là Liệt sĩ và phải được Nhà nước và Nhân dân Việt Nam tổn vinh bằng các hình thức: truy tặng Bằng “Tổ Quốc ghi công”, xây dựng, quản lý, chăm sóc, giữ gìn các công trình ghi công liệt sĩ, bao gồm phần mộ, nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ.

64 công dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa đã được Nhà nước Việt Nam công nhận Liệt sĩ, được truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”.

58 công dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa phải được Nhà nước Việt Nam công nhận Liệt sĩ, truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” theo quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước Pháp luật” của Hiến pháp Việt Nam.

Trước tình hình lãnh thổ Việt Nam trên biển nói chung, quần đảo Trường Sa nói riêng, đang bị nước ngoài triển khai xâm chiếm bằng vũ lực một cách ráo riết và nghênh ngang chưa từng có, Chủ nghĩa Yêu nước của toàn thể người Việt Nam – Nhân tố quyết định Thắng lợi của mọi cuộc Chiến tranh Ái Quốc từ Xưa tới Nay, hơn bao giờ hết phải được phát huy cao độ. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Đài tưởng niệm 122 Liệt sĩ anh dũng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nhằm biểu thị quyết tâm không gì lay chuyển nổi của toàn thể nhân dân Việt Nam bảo vệ và giành lại Chủ quyền biển, đảo và trên hết, bảo vệ Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, là vô cùng cấp thiết!

Với lẽ trên và cũng nhằm tiếp nối Đạo lý “Uống Nước nhớ Nguồn”, truyền thống tôn vinh các Anh hùng, Liệt sĩ của Dân tộc Việt Nam, tiếp nối các Sắc phong Thần của các Hoàng Đế nước Việt, tiếp nối Đàn Âm Hồn do Vua Thành Thái lập năm 1894 để tưởng niệm Đồng bào và Chiến sĩ trận vong trong cuộc chiến chống ngoại xâm tại Kinh Đô Huế ngày 5 tháng 7 (23 tháng 5 âm lịch) năm 1885, tôi trân trọng kiến nghị Quý Vị Lãnh đạo:
  1. Công nhận Liệt sĩ và truy tặng Bằng “Tổ Quốc ghi công” cho các 58 Công dân Việt Nam hy sinh trong chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 (*).

  1. Xây dựng Đài tưởng niệm Liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (có khắc tên 122 Liệt sĩ) (*).

Tổ Quốc Việt Nam và các Anh hùng, Liệt sĩ Bất Diệt!



(*) Cần rà lại con số Liệt sĩ cho chính xác.

CÙ HUY HÀ VŨ











Bauxite Việt Nam: Kiến nghị xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng