Tuesday, February 23, 2010

Bauxite Việt Nam: Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

Nguyễn Lương Hải Khôi

Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Bauxite Việt Nam

LTS Tuần Việt Nam: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.




Trung Quốc không phải là "thiên triều"


Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin "thiên triều" phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: "Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn".

Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và... chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn "nộp cống xưng thần" là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức "tướng quân", dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.

Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.

Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.

Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một "khuôn mẫu đỉnh cao", do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.



Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.

Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và "đặt chình ình" vào giữa cơ thể dân tộc.

Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là... không khác Trung Quốc.

Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài "chiếc hộp Trung Quốc". Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết... Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ "Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư". Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang... ở nhà.

Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.

Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, "Cổ sự ký", họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc... không đọc được.

Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, "chữ thánh hiền" là chữ Trung Quốc, "người thánh hiền" là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được "thánh hiền Trung Quốc" nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.

Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.


Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách "vô lễ" như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách "Sentetsu Sodan" ("Tiên triết tùng đàm") của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: "Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?". Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải... chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.

Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải "đặt vấn đề" về mặt văn hóa với Trung Quốc.

Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.

Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.

Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái "triết thuyết mới" ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.
Các học phái "Kokugaku", "Rangaku", "Mito"... đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết "thiên mệnh", những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người...

Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là "khuôn mẫu đỉnh cao".

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. "Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây" - đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.
Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi "Phương Tây" là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như... Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.
Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.
Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh "gục bên súng mũ bỏ quên đời".

Nguồn: Tuần Việt Nam, Vietnamnet
Bauxite Việt Nam: Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

Bauxite Việt Nam: Suy ngẫm xuyên qua hơn hai thiên niên kỷ

Lê Mai Anh

Tiếp theo bài viết của hai vị tướng Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, lần này BVN xin trân trọng đăng bài của Luật sư Lê Mai Anh, một trong số thành viên của Nhóm lão thành cách mạng ở Hà Nội, luận giải về những vấn đề nóng bỏng của đất nước thông qua câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy mà ông vừa có dịp chiêm nghiệm nhân ghé thăm đền Cổ Loa. Một trong những kiến giải của ông khiến chúng tôi hết sức tâm đắc là sự trái ngược giữa ông với nhà thơ Tố Hữu khi ông bênh vực Mỵ Châu, khi ông cho rằng không phải Mỵ Châu “trái tim lầm chỗ để trên đầu” mà chính là do người điều hành đất nước bị mua chuộc, đâm ra lú lẫn, bỏ quên cảnh giác với kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, ruồng rẫy vị tướng soái đại tài là Cao Lỗ, và chủ động kết hiếu với kẻ thù, nên đã để xây ra thảm họa 1.000 năm Bắc thuộc cho cả một dân tộc.
Bauxite Việt Nam
- Luật sư Lê Mai Anh
Thành Cổ Loa. (Ảnh: channelvn.net)

Đã mấy năm rồi, tôi mới trở lại thăm Cổ Loa, nơi mà An Dương Vương đắp thành dựng Đô giữ nước hơn hai nghìn năm trước.
Vì tuổi cao, huyết áp cao, chân đau, tôi không thể đi thăm hết các vòng thành vĩ đại đã bị thời gian, nắng, mưa biến thành phế tích. Thành quách xưa nay chỉ còn là hình dáng. Ngồi trên xe, phóng tầm mắt qua các vòng thành nguy nga thuở nào chỉ còn là những lằn đất nhấp nhô mà người dân địa phương đang sử dụng để trồng cây hoặc làm nhà, phục vụ cuộc sống lam lũ hàng trăm đời nay của một vùng cư dân nông nghiệp. Chỉ khi xe vào đến khu trung tâm, tôi mới thấy hàng quán tạm bợ hai bên đường đứng chen lấn, chủ yếu là hàng giải khát, hàng ăn và hàng lưu niệm. Cuộc sống nơi đây nhộn nhịp hẳn nên khách du lịch tương đối đông, các xe con, xe máy, xe ca đậu san sát. Xe buýt từ nội thành đã đến tận nơi.
Đền thờ An Dương Vương và Am Mỵ Châu hương khói nghi ngút. Giếng Ngọc cũng được sửa sang nằm giữa hồ nước trong vắt.
Cũng giống như những khách hành hương khác, sau khi đi thăm các di tích, vào thắp hương trước bàn thờ Đức Vua Thục An Dương Vương và Am Mỵ Châu, tôi ngồi bên đầu Rồng để nghỉ ngơi.
Nhìn cảnh “thành cũ lâu đài bóng tịch dương” của kinh đô Âu Lạc hơn hai ngàn năm trước mà đầu óc tôi miên man nghĩ về một thời bi tráng của dân tộc.

Truyền thuyết kể rằng khoảng giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Thục Phán sau khi chỉ huy con dân Âu Việt và Lạc Việt đánh bại nhà Tần, một đế chế mạnh nhất thời Trung Hoa cổ đại, giết chết tướng giặc Đỗ Thư, dựng lên nhà nước Âu Lạc, lên ngôi vua, lấy tên là An Dương Vương. Thục An Dương Vương đã trọng dụng tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng soái tài ba, một khai quốc công thần, xây thành Cổ Loa, một tòa thành quân sự vĩ đại, chế tạo ra nỏ Liên Châu, một vũ khí rất lợi hại lúc bấy giờ, còn gọi là Nỏ Thần Liên Châu để bảo vệ nền độc lập lâu dài của đất nước.
Nhà Triệu, một vương triều phía Nam Trung Hoa nhiều lần đem quân xâm lược Âu Lạc đều bị thua. An Dương Vương dựa vào sự chỉ huy tài tình của tướng quân Cao Lỗ cùng với thành cao, hào sâu, nỏ thần Liên Châu lợi hại đã đánh bại quân Triệu.
Nhà Triệu biết không thể dùng sức mạnh quân sự để tiêu diệt và khuất phục được nước Âu Lạc cuối cùng phải dùng đến độc kế. Còn thục An Dương Vương thấy quân dân Âu Lạc liên tiếp thắng lợi sinh chủ quan coi thường quân địch. Thế rồi cái gì đến ắt phải đến. Cuối thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vua nhà Triệu là Triệu Đà cho người thông hiếu với Âu Lạc, cho con trai là Trọng Thủy sang để làm rể Thục An Dương Vương và ở lại Cổ Loa làm con tin. Đi nước cờ này Triệu Đà bắn một mũi tên trúng hai đích là hòa hiếu tạm thời và làm suy yếu nước Âu Lạc, tiến tới thôn tính được Âu Lạc.
Âm mưu thông hiếu quỷ quyệt đó dứt khoát không qua được con mắt nhìn xa của các bậc đại thần nhất là vị khai quốc công thần tài ba lỗi lạc, tướng Cao Lỗ. Ông đã nhiều lần kiên quyết can gián và đã bị An Dương Vương cách chức. Triều đình mất đi một con người thông minh, tài ba. An Dương Vương say sưa với vị thế mới của mình, chủ quan cho rằng nhà Triệu đã từ bỏ âm mưu xâm lược, phải cho con trai sang làm rể, làm con tin. Và chắc chắn trong quá trình thực hiện âm mưu “mưa dầm thấm lâu” của cha con họ Triệu, vua Thục cùng một số đại thần Âu Lạc đều đã được biếu xén mua chuộc bằng những món quà cáp đắt tiền, những sản vật hiếm có, những lợi ích kinh tế đến từ phương Bắc. Đến đây thì đích thứ hai của mũi tên mà nhà Triệu bắn ra đã đạt được. Người của họ giả dạng lái buôn và tùy tùng dần dần lọt vào Hoàng cung Âu Lạc, nghiên cứu rất kỹ các vị trí bố phòng xung yếu của Loa Thành và đánh cắp bí mật chế tạo vũ khí nỏ thần Liên Châu.
Loại được trung thần tài năng, gây mâu thuẫn nội bộ, đưa lực lượng vào trong lòng nước Âu Lạc, đánh cắp được vũ khí chiến lược, nắm giữ được các vị trí tử huyệt, dã tâm xâm lược vốn là bản chất của các thế lực phong kiến Phương Bắc liền bộc lộ ngay tức khắc. Từng đoàn quân xâm lược trùng điệp kéo sang với vũ khí chiến lược của chính người Âu Lạc, cộng với đội quân phản gián, nằm vùng cùng nhất tề nổi dậy. Thế giặc như nước vỡ bờ, ba quân không còn tướng tài thao lược chỉ huy tổ chức chống giặc, kinh thành thất thủ. Thục An Dương Vương chỉ còn kịp đem theo con gái Mỵ Châu vợ Trọng Thủy chạy tháo thân về phía biển Nam. Trong bước đường nguy quẫn, Vua Thục đã trút giận tuốt gươm chém đầu con gái và tự vẫn.
Nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt. Lịch sử dân tộc ta đã phải trả giá bằng một ngàn năm đô hộ của phong kiến Phương Bắc, chỉ vì cái lỗi không nhìn xa trông rộng của kẻ cầm đầu.
Ngẫm lại câu chuyện bi tráng của một triều đại phong kiến nước nhà cách đây hai ngàn hai trăm năm, tôi tự hỏi mình: Thục An Dương Vương có công lớn hơn hay có tội lớn hơn với dân tộc này?
Trước hết phải nói rằng: Thục An Dương Vương có công lao rất lớn với dân tộc, chỉ riêng việc chỉ huy cuộc kháng chiến mười năm đánh bại quân xâm lược nhà Tần, một thế lực hùng mạnh nhất bấy giờ, lập nên nhà nước Âu Lạc đã là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nó có thể sánh ngang với các cuộc kháng chiến chống Tống, phá Nguyên, đuổi Minh, diệt Thanh của cha ông ta thủa trước và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua. Với việc xây dựng thành công tòa thành quân sự Cổ Loa, chế tạo ra thứ vũ khí lợi hại nhất lúc bấy giờ là nỏ thần Liên Châu, ngăn chặn thành công các cuộc xâm lăng của nhà Triệu cũng là công lao vô cùng to lớn của ông đối với dân tộc.
Một vị quân vương với võ công hiển hách, lập nên một nhà nước hùng mạnh đủ sức đương đầu với thế lực phong kiến siêu cường Phương Bắc suốt 50 năm, có thể nói Thục An Dương Vương là vị vua có công đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Còn tội thì sao? Thục An Dương Vương có tội trong việc nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt hay con gái ông là Mỵ Châu có tội?
Không, Mỵ Châu không có tội tình gì, nàng chỉ là nạn nhân của một mối tình chính trị, một thương vụ thông hiếu mù quáng, phải chịu tiếng oan là giặc trong nhà và bị vua cha chém đầu lúc cùng đường quẫn trí. Phải nói nàng sống đúng với trái tim trong trắng của mình chứ không phải “Trái tim lầm chỗ để trên đầu” (Tố Hữu).
Nhìn bức tượng không đầu và cái chết oan nghiệt của nàng cách đây hơn hai ngàn năm, bất kỳ một vị khách tham quan nào cũng phải ngẹn ngào, thảng thốt. Không ai có đầu óc mà không tỏ lòng oán trách đức vua đã gây ra thảm cảnh mất nước rồi lại đổ lỗi lên đầu con trẻ.
Ai gả Mỵ Châu cho Trong Thủy để thông hiếu với Triệu Đà? Chính là An Dương Vương. Ai không nghe lời can gián của tướng quân Cao Lỗ về chiến lược ngoại giao với nhà Tần? Chính là An Dương Vương. Ai bãi chức tướng quân khai quốc công thần tài ba lỗi lạc Cao Lỗ, để đến khi quân đội không có người chỉ huy như rắn mất đầu phải tháo chạy? Chính là An Dương Vương. Ai đưa Trọng Thủy cùng đội quân đội lốt phục vụ và lái buôn vào thành Cổ Loa? Chính là An Dương Vương.
Vậy thì tại sao con người tài ba lỗi lạc như An Dương Vương lại mắc những sai lầm chết người như vậy? Điều này chỉ có thể lý giải bằng tâm lý say sưa ngủ quên trong chiến thắng. Thói đời xưa nay là vậy, sau một thắng lợi hiển hách, kẻ đứng đầu đất nước thường rất dễ chủ quan khinh địch. Chiến thắng càng lớn chủ quan càng nhiều. nhất là các triều đại không biết đặt vững nền tảng tinh thần trên lòng dân, thường lao nhanh vào ăn chơi hưởng lạc, đội ngũ quan lại thì tham nhũng hà hiếp dân lành, các bậc trung thần bị ruồng bỏ, thậm chí bãi quan cách chức hoặc bị giết hại, nhân dân oán hận, sản xuất đình đốn. Một chế độ được dựng lên những tưởng dài lâu với sông núi, nào ngờ như tòa lâu đài nguy nga nhưng mục ruỗng, chỉ một cơn gió to là sụp đổ.
Và kẻ thù phương Bắc chỉ chờ có vậy. Một khi nhìn thấu vào nội tình của triều đình và dân chúng nước ta thì chúng lập tức trờ mặt, biến láng giềng tốt thành ngay kẻ thù, kéo sang đánh úp, mở đầu cho mối thảm họa lớn nhất, một ngàn năm tăm tối của dân tộc ta.
Rõ ràng là:
Một cá nhân sai lầm, tai họa chỉ mình họ chịu.
Một chủ gia đình sai lầm, cả nhà chịu họa.
Một lãnh đạo sai lầm cả quốc gia nghiêng ngửa, trăm họ lầm than.
Bài học nhãn tiền của nhiều dân tộc, qua mọi thời đại nghĩ mà kinh sợ hãi hùng.
Tôi trộm nghĩ trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay các nước, các dân tộc, các khu vực phải dựa vào nhau hợp tác, cùng phát triển. Đó là một bước đi tất yếu, không nước nào có thể đứng ngoài và cũng không thể không đổi mới về nhận thức để bắt kịp tình hình. Tuy nhiên do sự phát triển không đồng đều trong thế và lực giữa các nước, nhiều nhà chính trị đã lợi dụng sự hợp tác toàn diện này để phục vụ cho những toan tính chính trị đen tối của họ khi thời cơ đến.
Các cụ ta xưa có câu : “yêu nhau rào dậu cho chắc” , ấy là nói quan hệ hai nhà ở cạnh nhau, muốn êm ấm hòa thuận lâu dài, hãy rành mạch trong mọi việc. Một kinh nghiệm sống để đời, còn đúng đến ngày nay và hẳn là còn đúng đến nhiều đời sau. Suy rộng ra, điều ấy càng rất quan trọng trong mối bang giao giữa các nước vốn có đường biên giới chung. Hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam với Campuchia và phía Bắc với Trung Quốc vào thập niên bảy mươi của thế kỷ trước là bài học đắt giá vẫn còn nóng hổi.
Việt Nam – Lào – Campuchia, ba nước Đông Dương sát cánh bên nhau suốt một thế kỷ, đánh Pháp rồi đánh Mỹ. Xương máu củabao thế hệ ba nước đã vun đắp nên tình hữu nghị đặc biệt trên bán đảo Đông Dương. Ấy vậy mà, khi vừa giành được độc lập, những người cộng sản Khơ me đỏ Campuchia chẳng hiểu nghe ai xúi bẩy đã cắm phập lưỡi dao vào sườn những người cộng sản anh em Việt Nam để đòi đất, gây ra cuộc chiến tranh thảm khốc giữa những người đồng chí cùng chung một lý tưởng, cùng chung một chiến hào. Trong tình cảnh khó khăn, rối ren như vậy, Đảng Cộng Sản Trung Quốc – một Đảng đàn anh, không những không đứng ra hòa giải mà lại phát động một cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc, để ủng hộ những người Cộng sản Campuchia, vứt phăng khẩu hiệu “Môi hở răng lạnh, máu chảy ruột mềm” của tình hữu nghị “Núi liền núi, sông liền sông” mà hai Đảng đã dày công vun đắp cả nửa thế kỷ. Hậu quả của nó là hàng vạn con em của ba nước phải hy sinh một cách oan nghiệt. Cùng với sự việc này, người Việt Nam buộc phải nhớ đến Hoàng sa. Trong lúc chúng ta đang phải vất vả dồn sức đánh giặc ở đất liền thì người bạn đã thừa cơ cướp gọn hòn đảo này, Người Việt Nam càng quan tâm hơn tới những ứng xử ngang ngược của Trung Quốc tại biển Đông nhất là ở quần đảo Trường Sa hiện nay. Cho đến nay quan hệ Việt –Trung tuy được coi là đã trở lại bình thường nhưng lãnh thổ, lãnh hải của chúng ta vẫn bị họ chiếm giữ một phần, và họ đang ngày càng lấn lướt một cách ngang ngược trên những phần còn lại. Thân thể Tổ quốc ta vẫn còn rỉ máu, binh lính và nhân dân chúng ta vẫn còn bị giết hại một cách vô lối, tài nguyên vẫn bị họ chiếm đoạt. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác trong “giao lưu hợp tác, hữu nghị 16 chữ vàng”. Nên nhớ rằng sự xâm lăng có thể thực hiện bằng nhiều con đường. Trước tiên thường là mở đường bằng buôn bán, truyền bá văn hóa rồi đến vũ lực trực tiếp.
Một trong những vấn đề nóng hổi hiện nay ở nước ta là dự án khai thác vùng mỏ quặng Bauxte Tây Nguyên. Trong khi mà dự án còn bàn cãi ở Quốc hội và cho đến cuối năm 2009 vẫn chưa được Quốc hội thông quathì Trung Quốc đã đưa hàng trăm người vào vùng Tây Nguyên chiến lược “mái nhà của ba nước Đông Dương”. Phải chăng đây là đội quân tùy tùng giả dạng theo kế của Triệu Đà cũ. Lạ là một số người lãnh đạo của ta lại cố tình đem xé nhỏ giá trị vốn đầu tư ra thành các tiểu dự án để tránh phải đưa ra Quốc hội thông qua. Một sự lách luật lộ liễu đến thế mà qua mắt được cả một Quốc hội “của dân do dân vì dân” mới là điều kỳ. Người ta hỏi vì động cơ nào mà họ làm được như thế? Liệu có uẩn khúc xấu xa nào của sự liên minh trong ngoài hay không? Ai có thể đảm bảo rằng cuộc hôn nhân kinh tế Bauxite Tây Nguyên không để lại hậu quả như mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy, kể cả khi họ đã trả lại cho chúng ta toàn bộ vùng đất, vùng biển mà họ đang chiếm giữ.
Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có kể lại rằng, vào lúc đó ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách khoa học kỹ thuật, đất nước vừa ra khỏi ba cuộc chiến tranh, lại đang bị thế giới cô lập. Cấm vận kinh tế vô cùng khó khăn, rất cần tiền xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một đề án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên đã được đề xuất và nhờ các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ. Những người cộng sản Liên Xô lúc đó, không vì món lợi mà họ được hưởng từ đề án ấn tượng này mà vì quyền lợi của chính đất nước chúng ta, họ khuyên ta không nên khai thác, cái lợi kinh tế trước mắt không thể bù đắp lại thảm họa môi trường sẽ xảy ra với cả Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Bộ Chính trị và Chính phủ lúc đó đã quyết định không khai thác bauxite Tây Nguyên nữa.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhà chính trị nhà quân sự thiên tài, một đặc đẳng khai quốc công thần, một huyền thoại sống của dân tộc Việt Nam và thời đại đã nhắc nhở các nhà lãnh đạo của chúng ta “không nên khai thác bauxite Tây Nguyên vì đứng về toàn cục và phát triển bền vững, lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng”. Than ôi! Những lời vàng đá này rút ra từ gan ruột của một thiên tài đã sống trọn một thế kỷ vì nước vì dân mà không được tiếp thu.
Thưa Đại tướng! Hiện giờ một nhóm người nào đó chưa hiểu hết được lời răn dạy của Người nhưng cả dân tộc này, trên 80 triệu con người Việt Nam rất hiểu lòng Người, vì dân tộc Việt Nam đã thấm nhuần từ lâu tinh thần “độc lập hay là chết”, đã phải trả giá cho bài học lịch sử từ hơn hai ngàn năm trước của Vua Thục An Dương Vương, thấu hiểu nỗi đau của Bác Hồ khi người chứng kiến sự phản bội của những người Cộng sản anh em. Lẽ nào một kịch bản Cổ Loa lại để xảy ra lần nữa tại Tây Nguyên hay bất cứ nơi nào trên đất nước này.
Không! Thưa Đại tướng, dù khó khăn đến mấy xin Đại tướng không làm theo tướng quân Cao Lỗ ngày xưa chịu bó tay vì bị cách chức rồi sống bàng quan nhìn cả dân tộc mình chìm trong đau thương. Dù khó khăn đến đâu cũng không để cho những quả bom bùn nằm trên Cao Nguyên thường trực đe dọa đất nước. Bài học thông hiếu mù quáng của Thục An Dương Vương đã đưa cả một dân tộc chìm trong ách nô lệ một ngàn năm vẫn còn nóng hổi đó.
Nhiều nhà khoa học và các bậc lão thành cách mạng cùng những tướng lĩnh lỗi lạc đều đã ra sức can ngăn và về phía Tập đoàn TKV, một kẻ như Đoàn Văn Kiển dám đánh lừa dư luận bằng những lời giải trình mỹ miều cuối cùng đã bị lật tẩy và cách chức. Song chẳng hiểu vì sao dự án vẫn được tiến hành với ý rằng không có gì đáng lo, chúng ta đã nhìn thấy tất cả, mọi cái xấu đã và sẽ được ngăn chặn.
Bây giờ chỉ còn cầu Trời khấn Phật mong sao cho mọi sự được yên lành. Tôi lo, không chỉ lo cho hiện tại trước mắt vì môi trường sẽ bị đầu độc bởi bùn đất đỏ lẫn với những hóa chất độc hại dùng trong quá trình khai thác tràn về các sông suối miền Trung và miền Đông Nam Bộ (Người ta hứa sẽ “xử lý triệt để” khối bùn đỏ khổng lồ ấy bằng hai lớp nilon. Đến con trẻ cũng có thể luận ra được đâu là thật và đâu là lời nói dối. Hãy đợi đấy?!).
Tôi lo, lo cho ba mươi năm, năm mươi năm sau (dĩ nhiên là lúc đó nhiều người của thế hệ hôm nay sẽ không còn nữa) con cháu chúng ta sẽ phải lầm than trong cảnh phụ thuộc, mất độc lập tự do.
Lo lắng cho vận mệnh, tương lai của đất nước không phải là quyền của riêng ai. Nhiều cá nhân muốn làm giàu nhanh chóng đã phải trả giá vì trúng phải viên đạn bọc đường. Biết trước được họa để tránh cho thế hệ sau khỏi phải khổ sở vì cha ông sai lầm chẳng phải là việc nên làm của những người nắm giữ vận mệnh dân tộc lúc này hay sao.
Tôi được biết ở nhiều nước châu Phi, Trung Quốc đến khai thác đồng, bauxite và khoáng sản khác gây ra vô số hậu quả và nợ nần cho những nước chủ nhà khiến họ phụ thuộc ngày càng sâu vào Trung Quốc. Ở Việt Nam thì công nghệ xi măng lò đứng, gang thép Thái Nguyên, mỏ đồng sinh quyền… Đang có nhiều vấn đề về công nghệ, môi trường, cũng bị phụ thuộc và nợ nần vào tay họ.
Vấn đề khai thác Bauxite Tây Nguyên là vấn đề lớn, nguy hại đến sinh mệnh của hàng triệu con người ở miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ; đồng thời hàng chục dân tộc thiểu số Tây Nguyên đang bị hăm dọa sẽ hủy diệt, nhưng cái lớn hơn là bọn nước lớn với tư tưởng bành trướng như những kẻ cướp có được chỗ ngồi trên nóc nhà ba nước Đông Dương thường xuyên, nền độc lập của cả ba dân tộc bị uy hiếp thì dân chúng không nơm nớp lo sao được. Thế mà vấn đề này chưa được giải quyết thấu đáo thì vấn đề kia đã phát sinh, khiến những ai tỉnh táo vì vận mệnh đất nước càng như ngồi trên lửa bỏng. Với phát hiện của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nay lại nẩy ra cái họa 10 tỉnh biên giới bán rừng đầu nguồn cho Trung Quốc. Thử hỏi, đứng về mặt luật pháp, có đạo luật nào cho phép bán đất đai của Tổ quốc không thông qua Quốc hội hay không? Một đất nước cai trị bằng luật và đang cố gắng tiến tới một nhà nước pháp quyền, vậymà mọi thứ đều dẫm lên trên luật thì đất nước ấy còn ra thế nào? Thì ra “mối lo Trọng Thủy” bây giờ không chỉ thu hẹp riêng ở Tây Nguyên nữa mà đã lan ra rất nhiều nơi. Rồi đây, như âm binh của Cao Biền, chẳng ai biết những gì ẩn náu trong các cánh rừng đầu nguồn đã bán kia sẽ nổi dậy và kéo về xuôi, chúng ta còn trở tay sao kịp, và liệu những người cầm chịch đất nước có “ngồi mát ăn bát vàng” được hay không?
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đất nước ta nhân dân ta đã phải đổ xương máu của hàng triệu con người để giành giữ, bảo vệ nền độc lập của mình. Quốc hội cần phải xem xét thận trọng và phải cảnh giác, biểu quyết các vấn đề liên quan đến lãnh thổ và an ninh theo ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt Nam yêu nước. Đó cũng là thực hiện và bảo vệ đạo luật về Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, và được thể chế hóa thành luật .
LMA
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập.
Bauxite Việt Nam: Suy ngẫm xuyên qua hơn hai thiên niên kỷ

Bauxite Việt Nam: Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng ai

Chu Lai

Nói đi nói lại về lòng yêu nước mà vẫn không chán, mà rồi lại vẫn cứ phải nói, phải lý giải bằng cách này hay bằng cách kia, điều đó chứng tỏ trong tâm thức dân tộc chúng ta, lòng yêu nước là một cái gì luôn luôn canh cánh, một món nợ lòng đối với Tổ quốc mà hễ một lúc nào quên lãng, thì không còn xứng đáng là người. Khốn thay, thời buổi kinh tế thị trường này, mọi thứ đều có thể đem ra bán, thì cái thiêng liêng nhất là lòng yêu nước cũng có thể bị đem bán lắm. Nhưng những ai sở hữu lòng yêu nước thì đương nhiên không bao giờ bán vì bán nó đi là bán một phần cơ thể của mình, chắc chắn mình sẽ tự triệt tiêu mình. Vậy thì ai có thể bán cái mà cả dân tộc này sở hữu? Nếu đất đai là sở hữu vật chất thiêng liêng của toàn dân mà những kẻ nào đó còn có thể ngang nhiên tìm cách này cách khác chiếm đoạt và đem bán thì lòng yêu nước cũng chính là cái phần đất đai phi vật thể phân đều trong mỗi con người Việt Nam. Ai bán được đất đai thì cũng bán được lòng yêu nước. Không bao giờ thừa nếu cả dân tộc chúng ta nâng cao tinh thần cảnh giác với chúng.
Bauxite Việt Nam

Thế hệ hôm nay lại triển khai lòng yêu nước bằng cách trau dồi tri thức, năng lực làm giàu cho cộng đồng và làm giàu cho chính mình
Lâu nay, người ta hay có thói quen suy nghĩ trên một lộ trình đường ray rằng, cái gì đã định hình thì mãi mãi định hình, bất biến, không thay đổi. Ví như lòng yêu nước.
Qua đó, số người này muốn khẳng định chắc nịch: Đã yêu nước là phải xả thân, phải gắn bó tận cùng với số phận của non sông của dân tộc, quên hẳn cái cá nhân vị kỷ của mình đi, chỉ để cho cái lợi ích của cộng đồng lên trên tất cả, nếu cần hy sinh luôn thân mình vì nghĩa lớn.
Đúng! Điều đó hoàn toàn đúng. Bao lâu nay, nhất là trong những điều kiện giặc giã, mất còn sinh tử, cái chủ thuyết mang hồn khí của lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm đó đã tạo dựng nên diện mạo non sông, đã hun đúc nên phẩm cách của dân tộc để đến hôm nay, ta có thể ngẩng cao đầu mà tự hào nói to lên rằng, hết thảy mọi vinh quang và chiến công đó đều thuộc về lòng yêu nước sâu thẳm và bất diệt của người dân Việt.
Nhưng lòng yêu nước không phải bao giờ cũng trung trinh một chiều bền vững. Khi có giặc, lòng yêu nước mặc nhiên được dâng lên như triều cường để bảo vệ chính mình, gia đình thân yêu và giang sơn của mình. Con người lúc ấy mới cao thượng và tốt đẹp làm sao. Trong vắt và tinh khiết làm sao. Tất cả được hội tụ, nâng lên thành những giá trị tinh thần bất khả chiến bại [1] mà đỉnh cao là chủ nghĩa anh hùng bách chiến bách thắng.

Thế rồi, bỗng một ngày không còn bóng giặc, con người bỗng phân thân kỳ lạ. Lòng yêu nước có vẻ như bị tan loãng vào cuộc sống mưu sinh khắc nghiệt thường ngày khiến cho nhiều khi khái niệm yêu nước trở nên bàng bạc, mơ hồ. Khi đó cái TÔI đã ngoi lên lấn át cái TA. Tiếng gào trống rỗng của những chiếc dạ dày và khát vọng hưởng thụ luôn ngự trị trong từng miếng ăn giấc ngủ. Lòng yêu nước thoắt trở nên một cái gì như là xa xỉ, không có thật. Hoặc có đi nữa lại thường chỉ âm thầm nằm day dứt trong trái tim những con người chính trực.
Còn một số khác lại hành trình ngược lại, luôn miệng hô hào yêu nước, thương dân, nhưng không từ một thủ đoạn nào vét cho đầy hầu bao. Mầm mống tham nhũng bắt đầu từ đó mà cái mầm mống này nó càng tệ hại hơn là chính họ lại đi nhân danh lòng yêu nước, yêu dân cần lao, đi đâu ngồi đâu cũng lớn tiếng rao giảng những điều cao siêu đạo lý, trong khi vẫn nhẫn tâm dấn sâu vào sự vô đạo. Họ luôn làm thất thoát, chiếm dụng, đục khoét vào vốn nhà nước, mượn đồng tiền nhà nước, tức là đồng tiền từ mồ hôi nước mắt của người dân đóng góp để vinh thân phì gia, để tự cho phép mình được hưởng một thu nhập chất ngất mà không cần biết xung quanh họ triệu triệu người còn thắt lưng buộc bụng. Họ nhân danh ai, nhân danh cái gì, đã làm lợi cho Tổ quốc được bao nhiêu mà có thể có những hành xử phi nhân và độc ác như thế? Đấy là một căn bệnh vô cảm dẫn đến thoái hóa lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc đã được đổi bằng núi xương sông máu của bao thế hệ mới có.
Mà thôi, ngày xuân nồng nàn chả nên đi sâu đi kỹ vào chuyện này làm gì, nó nhức nhối, nó ngóc ngách, giằng dịt, nó mất xuân đi. Chỉ hy vọng rằng, mỗi độ xuân về, dưới bầu trời xuân tâm linh thăm thẳm, cái tà khí sẽ bị xua dần đi và ánh thái dương cùng với nụ xuân tốt lành sẽ đâm chồi nảy lộc.
Giờ ta nên nói chuyện khác, chuyện về giới trẻ.
Không ít người cho rằng, giới trẻ hôm nay là vô ơn, là không màng gì đến nỗi đau và sự gắng gỏi không cùng của dân tộc đã rớm máu trải qua, là bạc nhược, là thiển cận, là đánh mất truyền thống, là chỉ biết chìm nghỉm vào cuộc sống vật chất hưởng thụ mà không lo đến tương lai, khát vọng, tiền đồ, lý tưởng của đất nước, cứ đà này rồi là chết, là thậm nguy, chí nguy nếu non sông lại phải đương đầu với thác ghềnh ghê gớm như đã từng đương đầu.
Nỗi lo này có phần nào đáng để tâm suy nghĩ vì nó đã nhỡn tiền xảy ra chỗ này chỗ khác, người này người khác, nhưng nếu tĩnh trí lại thì ắt sẽ tìm được lời giải khiến ta bình tâm hơn. Thì đó, sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, các đoàn binh tràn về qua năm cửa ô làm cuộc tiếp quản lịch sử, một đồng chí lãnh đạo đảng cao cấp thấy viên đạn bọc đường của đời sống đô thị, đời sống hòa bình làm thay đổi biết bao những chàng trai mà trước đó họ còn là những chiến binh kiêu hùng đã buộc phải thốt lên: “Gay rồi! Kiểu này không khéo sẽ mất hết cơ đồ!” Nhưng rồi khi chiến tranh nổ ra, Mỹ vào, lại chính những con người đó đã rùng rùng ra trận làm nên những chiến công huy hoàng không thua kém gì thời cha anh đánh Pháp.
Và bây giờ cũng vậy. Bởi một lẽ đơn giản nhưng đã được định vị chắc bền ở tầng sâu trầm tích: Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng một thế hệ nào, thế hệ cha anh triển khai lòng yêu nước bằng cách xông pha vào trận diệt thù, còn thế hệ hôm nay lại triển khai lòng yêu nước bằng cách trau dồi tri thức, năng lực làm giàu cho cộng đồng và làm giàu cho chính mình. Song các thế hệ đều có một mẫu số chung là hạt kim cương của lòng tự trọng lấp lánh nằm trong lồng ngực, mà tới đây nếu có bất cứ một ai, một thế lực nào động chạm đến bàn thờ ông bà, xúc phạm đến dân tộc là thế hệ hôm nay cũng sẽ biết mở những cuộc hành binh oai hùng và tráng lệ không thua kém gì các thế hệ cha anh.
Lịch sử ngàn năm trận mạc chống ngoại xâm đã chứng minh điều đó. Và ngày hôm nay, thế hệ trẻ còn phải chứng minh thêm một điều nữa không kém phần cam go khốc liệt, đó là phải trả lời bằng được câu hỏi: Tại sao cái nhục mất nước ta không chịu được thì chả lẽ cái nhục đói nghèo ta lại dễ chịu đựng hay sao?
Nhìn về thăm thẳm chiều sâu lịch sử, nhìn về rạng ngời phía trước, ta có thể tin rằng, con người Việt Nam hôm nay, thế hệ trẻ hôm nay sẽ trả lời được, sẽ có cách trả lời. Tin như hết mưa trời lại nắng, hết đông lại chuyển sang hè. Mùa xuân nao nức đang về trên ngàn ngàn cây lá, cỏ xanh.
Bauxite Việt Nam: Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng ai

Saturday, February 13, 2010

Bauxite Việt Nam: Câu đối góp vui ngày Tết

Hà Sĩ Phu

Thịt mỡ dưa hành thì chưa tết nào thiếu, chỉ phần “Câu đối đỏ” thì năm nay mới lại thấy dồi dào, cũng một phần nhờ công của “Trần Nhương chấm com ” ! Hoan nghênh những câu đối vui, chữ nghĩa lắt léo, như một thú chơi ngày Tết. Nhưng những lúc vui người Việt mình thường thắp nén nhang nghĩ đến tổ tiên, nghĩ đến gia tổ, quốc tổ để mà tạ ơn, để chia sẻ nỗi buồn vui ấm lạnh. Bởi thế, nếu câu đối không có chút lòng ưu thời mẫn thế, không màng tới giang sơn, thế sự, chỉ phong hoa tuyết nguyệt tào lao, làm anh thợ chữ , thì thiển nghĩ mình chẳng xấu hổ với tiền nhân lắm sao?
Trong cuộc vui đã thấy xuất hiện nhiều “đối sĩ” đáng nể . Được biết có một bạn trẻ là Giáp Văn Dương, từ Anh quốc có câu thách đối đơn giản mà hay. Thách đối rằng:

- ĐÔNG Hải phong ba, SỬU qua DẦN tới,
quyết lập thế quần NGƯU đả HỔ !

Một chàng trai đang độ thanh xuân, làm khoa học tự nhiên mà có thú làm câu đối, có vị chữ Nho, có trò chơi chữ, lại đề cập đến vấn đề bảo vệ đất nước đang rất “nhạy cảm” , lại kêu gọi đoàn kết chống ngoại xâm, giữ gìn biển đảo, giữa lúc lòng người đang rất ly tán, thì lứa già chúng tôi chẳng đáng xem đó mà học hay sao?.
Một công dân nước NAM, sống dưới trời TÂY, nghĩ đến biển ĐÔNG của nước nhà mà không khỏi đề phòng phía BẮC. Đủ cả 4 phương và kim cổ trong câu Mời đối.
Cảm được tâm tình người xuất đối, tôi xin có 3 vế đối lại lời mời cho đủ mùi NAM BẮC ĐÔNG TÂY.
Vế xuất của Giáp Văn Dương:

- ĐÔNG Hải phong ba, SỬU qua DẦN tới,
quyết lập thế quần NGƯU đả HỔ !


3 vế đối của Hà Sĩ Phu:

- TÂY Nguyên hùng vỹ, GỖ quý RỪNG thiêng,
chớ quên lời hợp MỘC thành LÂM !

(Ghép hai chữ MỘC thành chữ LÂM)

- NAM Bang tỉnh ngộ: DẦN khôn SỬU khổ,
đừng sa vòng lưỡng HỔ phân NGƯU! *



- BẮC Phương biển lận, TA lui, NGƯỜI lấn,
phải ngăn trò ích KỶ hại NHÂN!


Xin được lấy câu chuyện nhỏ về câu đối này để góp vui ngày Tết con Hổ.
Cung chúc tân xuân

HSP (ngày 30 tết Canh Dần)
————————————
[*] Bi kịch đáng sợ của đất nước là những cái lưng TRÂU lại trở thành “tiền đồn” cho những con HỔ mượn để tranh hùng. Mà kết cục của việc “canh gác cho cái thế giới cứ chọn ta làm điểm tựa” sẽ là sự tan đàn sẻ nghé , dân tộc bị phân ly, muốn tạo thế “quần Ngưu đả Hổ” thật chẳng dễ dàng gì !
Bauxite Việt Nam: Câu đối góp vui ngày Tết